Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.doc

lời mở đầu
Kinh tế thị trờng là của cải chung về sự phát triển của xã hội loài
ngời luôn luôn là vấn đề cần nghiên cứu về lí luận cũng nh trên thực tiễn trên
phạm vi toàn thế giới. Quá trình vận động trong nền kinh tế thế giới những
năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hớng thị trờng có sự
điều tiết vĩ mô từ trung tâm trong bối cảnh của thời đại ngày nay luôn là mô
hình hợp lí hơn cả.
ở nớc ta hiện nay, kinh tế thị trờng cũng đang là một vấn đề thời sự,
việc thực hiện mô hình trên chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới
mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phơng thức để đi tới mục tiêu của chủ nghĩa
xã hội. Nền kinh tế của nớc ta đang trong giai đoạn quá độ chuyển tiếp từ nền
kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa và có sự quản lí của nhà nớc. Đây còn là vấn đề mới trong
lịch sử nớc ta, do vậy bên cạnh những thành tựu to lớn và rất quan trọng đã
đạt đợc, vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của đất n-
ớc, của công cuộc đổi mới đòi hỏi phải đợc giải quyết để thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế nớc ta.
Với đề tài Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam , Tôi mong
rằng chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về những xu hớng vận động và phát triển của nền
kinh tế thị trờng, những bản chất và mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế, của
việc hình thành và xây dựng con ngời, xây dựng và phát triển xã hội. Nhận
thức đợc thực chất của giai đoạn quá độ, chi phối đợc nó sẽ tránh đợc những
sai lầm, chủ quan nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hớng cực đoan, máy móc,
sao chép, nhập ngoại các mô hình kinh tế thị trờng ngoại lai một cách máy
móc.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm và tham khảo các tài liệu liên
quan nhng bài tiểu luận này cũng không tránh khỏi những thiếu sót . Vì vậy
tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của các bạn sinh viên và tất cả các bạn đọc ,
đặc biệt là sự góp ý của các thầy cô giáo .
1
nội dung
I-lí luận chung:
Trong thế giới hiện thực, bất kì sự vật hiện tợng nào cũng chứa đựng
trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hớng phát triển ng-
ợc chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt trong những điều kiện cụ
thể tạo thành mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự vật cũ mất đi, sự vật
mới hình thành. Sự vật mới làm nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá & phủ định lẫn nhau để tạo
thành sự vật mới hơn. Cứ nh vậy mà các sự vật hiện tợng trong thế giới khách
quan thờng xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy mâu thuẫn là
nguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển.
1) Mâu thuẫn là hiện tợng khách quan và phổ biến
Theo phép biện chứng duy vật tất cả các sự vật, hiện tợng tồn tại trong
thực tại khách quan đều chứa đựng trong nó những mâu thuẫn. Sự hình thành
và phát triển của mâu thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật
hiện tợng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kì lực lợng
siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con ngời. Mỗi một sự vật, hiện tợng đang tồn
tại đều là một thể thống nhất đợc cấu thành bởi các mặt, các khuynh hớng,
các thuộc tính phát triển ngợc chiều nhau, đối lập nhau. sự liên hệ tác động
qua lại, đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau tạo thành động lực
bên trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách quan của chính bản
thân các sự vật và hiện tợng.
Mâu thuẫn là một hiện tợng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội
và t duy của con ngời, giữa các giai cấp đối kháng nh chủ nô và nô lệ, nông
dân và địa chủ, t sản và vô sản. Hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng mang tính
phổ biến, chẳn hạn nh cung và cầu, tích luỹ và tiêu dùng trong t duy của con
ngời cũng có những mâu thuẫn nh chân lý và sai lầm,
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc.
trong mỗi sự vật, có thể có rất nhiều mâu thuẫn hình thành, vì sự vật trong
cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn
khác đợc hình thành. Ăng-Ghen chỉ ra rằng chính sự vận động đơn giản nhất
của vật chất cũng là một mâu thuẫn. vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao
hơn, mâu thuẫn càng thể hiện rõ nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt
2
quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của sự vật. Đó chính là những thuộc
tính quy định tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
2) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Thế nào là mặt đối lập:
Mặt đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, những khuynh
hớng, sự phát triển ngợc chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tợng
tạo nên sự vật, hiện tợng đó.
Không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì
trong các sự vật, hiện tợng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại
trong nó hai mặt đối lập, mà có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập chỉ có
những mặt đối lập nào tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nh một chỉnh
thể, nhng có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau, bài trừ, phủ định và
chuyển hoá rất nhau ( sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc, động lực đồng
thời quy định cả bản chất, khuynh hớng phát triển của sự vật ) thì hai mặt đối
lập nh vậy mới gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ, lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập chính tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì
hai mặt đối lập này không chỉ là nguồn gốc, động lực mà còn quy định rõ bản
chất khuynh hớng phát triển của nền sản xuất.
Thống nhất các mặt đối lập
Thống nhất các mặt đối lập đợc hiểu với nghĩa là hai mặt đối lập n-
ơng tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân bằng nhng liên hệ phụ thuộc, quy
định và ràng buộc lẫn nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện
không thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kì sự vật, hiện tợng nào. Sự thống
nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên. Tất nhiên,
khái niệm Thống nhất của các mặt đối lập cũng nên hiểu với ý nghĩa tơng
đối mà thôi. Thống nhất của cái độc lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa
đựng trong nó sự đối lập.
Khái niệm sự thống nhất của các mặt đối lập còn đợc dùng cùng một
nghĩa với khái niệm sự đồng nhất của các mặt đối lập. Tuy nhiên trong
những quan hệ xác định, khái niệm đồng nhất và thống nhất không hoàn toàn
đồng nghĩa với nhau. Đó là trong trơng hợp mà các mặt đối lập chuyển hoá lẫn
nhau.
3
Đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong
cùng một sự vật thống nhất nh một chỉnh thể trọn vẹn nhng không nằm yên
bên nhau mà đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành độnglực phát triển của
bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhiều dạng khác nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia ra làm nhiều giai đoạn. khi
mới xuất hiện, hai mặt đối lập cha thể hiện rõ sự xung khắc gay gắt, ngòi ta
gọi đó là giai đoạn khác nhau. Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong một
sự vật nhng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiều nhau, tạo thành
động lực bên trong của sự phát triển, thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bớc
đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn
xung đột gay gắt nó biến thành đối lập. Nếu hội đủ các điều kiện cần thiết, hai
mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau. Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết, sự
thống nhất của hai mặt đối lập cũ đợc thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt
đối lập mới. Hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu
thuẫn. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ
thấp đến cao. Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập
. (V.I-Lê-Nin)
Khi bàn về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, Lê-nin viết:
Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua t -
ơng đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng
nh sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối..
Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển
đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến sự
chuyển hoà bài trừ và phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của
các mặt đối lập thờng diễn ra một cách tự phát. Còn trong xã hội, chuyển hoá
của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua các hoạt động có ý thức
của con nguời. Chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn đợc
giải quyết. Đó là quá trình diễn biến rất phức tạp với rất nhiều hình thức
phong phú khác nhau.
4
Thông thờng thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức: Một là,
mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhng ở trình độ cao hơn xét
về phơng diện chất của sự vật. Ví dụ, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành nên
quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa và lực lợng sản xuất
mới ở trình độ cao hơn. Hai là, cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
3) ý nghĩa phơng pháp luận của quy luật mâu thuẫn
- Mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan và phổ biến hình thành từ
những cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật,
hiện tợng trong bản thân thế giới khách quan. Do đó trong hoạt động thực tiễn
phải biết phân tích từng mặt đối lập tạo thnàh mâu thuẫn cụ thể để nhận thức
đợc bản chất, khuynh hớng vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng.
- Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn cũng khác nhau, mỗi sự vật đều có
nhiều mâu thuẫn , mỗi mâu thuẫn lại có đặc điểm riêng của nó; quá trình phát
triển của một mâu thuẫn, ở mỗi giai đoạn của nó lại có những đặc điểm riêng.
Do đó, phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, và tìm cách giải quyết
cụ thể từng loại mâu thuẫn.
- Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh
giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ cái cũ để thiết lập cái mới
tiến bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu tranh cần đợc coi
là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
ii- quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng ở việt nam
1) Chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN là phù hợp
với xu hớng khách quan trong nền kinh tế
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, ở đó sản
xuất cái gì, nh thế nào,. cho ai, đợc quyết định thông qua thị trờng. Trong kinh
5
tế thị trờng, các quan hệ kinh tế của các cá nhân , các doanh nghiệp đều biểu
hiện thông qua mua bán hàng hoá dịch vụ trên thị trờng.
Kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá .
Nó nằm trong tiến trình phát triển lịch sử khách quan về kinh tế trong xã hội
loài ngời. Đồng thời nó không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa t bản mà
là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại.
Còn cơ chế thị truờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động
dói sự chi phối của các quy luật thị truờng. Trong đó quy luật giá trị giữ vai trò
chi phối và trong môi trơng cạnh tranh nhằm phục vụ mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trờng là cung, cầu và giá cả thị trờng.
Nh chúng ta biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng
kinh tế xã hội của nền kinh tế đều đợc triển khai trong quá trình kế hoạch
hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nớc đối với các hoạt động trong
sản xuất , lu thông, phân phối khá nặng nề. ở nớc ta trớc đây, chế độ hạch
toán trên thực tế còn nặng nề về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích
cá nhân, ngời lao động, một động lc trực tiếp của hoạt động xã hội cha đợc
quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm
chạp , kém năng động.
Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đờng lối đổi mới
đất nớc ta đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng với định hớng
XHCN, và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt đợc những thành tựu hết sức
quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ sung nhận
thức, làm cho quan niệm về CNXH ngày càng cụ thể; đờng lối, chủ trơng,
chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn . Những
thành tựu đó , trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của
kinh tế thị trờng trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nớc.
Kinh tế thị trờng có các u thế sau đây:
- Nó kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăng năng suất
lao động nâng cao trình độ sản xuất. Kinh tế thị trờng lấy lợi nhuận làm động
lực cho mọi hoạt động. Để thu đợc nhiều lợi nhuận đòi hỏi các nhà doanh
nghiệp phải thờng xuyên áp dụng kĩ thuật mới, hợp lí hoá sản xuất làm năng
suất lao động xã hội và năng suất lao động cá biệt tăng lên.
- Kinh tế thị trờng có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng. ở đây tồn tại nguyên tắc ai đa đợc hàng hoá ra thị trờng trớc tiên sẽ thu
đợc nhiều lợi nhuận hơn. Mặt khác nếu nhận thức đợc sản phẩm của mình
6
không có ngời mua hay lợng cầu đang giảm dần, ngời sản xuất sẽ không sản
xuất nữa. Điều đó dẫn đến sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội. Vì vậy kinh tế
thị trờng luôn diễn ra sự đổi mới.
- Trong kinh tế thị trờng có nhiều hàng hoá và dịch vụ, đó là một nền
kinh tế d thừa chứ không phải là một nền kinh tế thiếu hụt. Do vậy, nền kinh tế
thị trờng tạo điều kiện vật chất để thoã mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật
chất, văn hoá và sự phát triển toàn diện của con ngời.
Bên cạnh đó kinh tế thị trờng cũng có những khuyết tật: thờng xảy ra
tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trờng,
tiêu cực và tệ nạn xã hội phát triển
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh
tế thị trờng nhà nớc cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo sự ổn
định, công bằng và hiệu quả. Trong lịch sử nền kinh tế thế giới không ở đâu
và lúc nào có một hệ thống thị trờng thuần tuý. Có nhiều mô hình kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc nh: Kinh tế thị trờng theo kiểu tự do ở Mĩ,
mô hình kinh tế thị trờng ở Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trờng ở Bắc Âu, ở
Cộng hoà liên bang Đức
Mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN: Kinh tế thị trờng
XHCN là một kiểu tổ chức, một kiểu vận hành kinh tế mà một mặt tuân theo
những quy luật kinh tế thị trờng, mặt khác dựa trên cơ sở bản chất và nguyên
tắc của CNXH đợc chi phối bởi nguyên tắc, bản chất của CNXH trên cả ba
mặt của một nền kinh tế xã hội: Sở hữu, quản lí và phân phối. Đặc trng chủ
yếu của mô hình kinh tế này là : kinh tế công hữu , kinh tế nhà nớc và kinh tế
hợp tác là chủ thể, kinh tế quốc hữu làm chủ đạo. Chủ thể là nói về quy mô,
định lợng là chính. Chủ đạo là nói về vai trò dẫn đờng, định tính là chính.
Kinh tế cá thể, kinh tế t doanh cùng kinh tế doanh nhân nớc ngoài đợc coi là
thành phần kinh tế bổ sung cần thiết Về phân phối, thực hiện phân phối theo
lao động là chính, các hình thức phân phối khác là bổ sung. Mở rộng một cách
hợp lí khoảng cách trong thu nhập, nhng không phân hoá theo hai cực, từng b-
ớc thực hiện mục tiêu cùng nhau giàu có (mang màu sắc Trung Quốc).
Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mô
hình tổng quát của nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN
với mục tiêu: phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, công bằng,
dân chủ, văn minh. Đó là một nền kinh tế mà kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo; Kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. Đây là một trong những yếu tố cơ bản
7
đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng giữ vững định hớng XHCN. Các thành phần
kinh doanh theo pháp luật đều là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Vai trò quản lí của nhà nớc trong nền kinh
tế thị trờng rất quan trọng , trong việc tăng trởng kinh tế kết hợp đảm bảo thực
hiện công bằng, dân chủ và văn minh.
2) Thực trạng của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế của nớc ta hiện nay đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ nền
kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trờng. Thực chất của
bớc chuyển ấy trớc hết là ở sự đổi mới các quan hệ sỡ hữu. Nếu nh trớc đây,
nền kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu tơng đối thuần nhất với hai hình thức
nhà nớc và tập thể. Hiện nay cùng với hình thức chủ đạo là sở hữu nhà nớc nền
kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở
hữu đó trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế không hẳn đã đồng bộ với
nhau. song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế có
khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị tr-
ờng. Điều đó có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế trong
thời kì quá độ ở nớc ta hiện nay có lẽ vần là sự thừa nhận xu hớng trong sự vận
động của nó. Tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế nhà nớc để
kinh tế nhà nớc thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều
chỉnh toàn bộ các hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế để trên cơ sở đó, giải
quyết các vấn đề xã hội ở tầng vĩ mô sao cho tăng trởng kinh tế không trở nên
mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thờng của đời sống xã hội.
Đảng ta không coi cơ chế thị trờng là liều thuốc vạn năng và vì vậy
không khuyến khích phát triển nó về mọi phơng diện. Bởi lẽ việc tuyệt đối
hoá vai trò của kinh tế thị trờng sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ phía khác.
Kinh tế thị trờng tuy có điểm mạnh nhng bản thân nó vốn có những giới hạn,
những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bớng bỉnh, hơn thế nữa quan hệ
thị tròng còn là môi trờng thuận lợi để phát sinh những tiêu cực và tệ nạn xã
hội. Thực tiễn hơn 15 năm đổi mới cho thấy, bên cạnh tác động tích cực là cơ
bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị trờng gây ra cũng hết
sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phơng diện t tởng đạo đức, lối sống do cách
làm ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến các hình thức lừa đảo, hối lộ,
trốn thuế, nợ nần khó trả do thơng mại hoá một cách tràn lan , xâm nhập vào
cả lĩnh vực dễ thơng tổn nh y tế, văn hoá, giáo dục đã làm cho các giá trị
đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã chi phối quan hệ
giữa ngời với ngời; sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hớng
tăng lên, lối sống ích kỉ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
8
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ vận dụng các hình thức và phơng pháp quản
lí nền kinh tế thị trờng là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ cho mục
đích xây dựng CNXH chứ không đi theo con đờng t bản chủ nghĩa .
Cũng phải thừa nhận rằng các vấn đề nói trên dù ít hay nhiều cũng là
các vấn đề của bản thân cơ chế quản lí. Trong nền kinh tế hiện nay của nớc ta,
cơ chế quản lí đang ở giai đoạn hình thành nên thờng là không đồng bộ và
thiếu hụt. Chúng ta cha thực sự tạo ra môi trờng an toàn và ổn định cho sản
xuất và kinh doanh. Cơ sở pháp lí của các hoạt động kinh tế còn có nhiều bất
cập. các hoạt động tài chính, ngân hàng. phân cấp quản lí còn nhiều bất hợp
lí. Do vậy trong một số vụ án kinh tế, cơ chế quản lí đôi khi vừa là thủ phạm,
vừa là nạn nhân của kinh tế thị trờng.
Rõ ràng là cơ chế vận hành của nền kinh tế nớc ta đang trong quá trình
tiến tới một cơ chế thịh trờng đích thực, văn minh, nhng hiện tại vẫn còn mang
dấu ấn của cơ chế kinh tế cũ. Cơ chế quản lí kinh tế mới bớc đầu đã hình thành
nhng cha đồng bộ, đang ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều yếu tố tự phát, đặc
biệt vẫn còn yếu kém cả về chính sách lẫn pháp lí hớng dẫn nền kinh tế. Công
tác tài chính, ngân hàng, giá cả, xây dựng, đã đổi mới nhng cha theo kịp đòi
hỏi trong thực tiễn.
Khác với cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, cơ chế thị truờng với
quy luật khách quan của nó, thờng biểu hiện ra nh là một cơ chế tự phát hơn,
tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con ngời hơn. Bởi vậy, việc nắm các
yếu tố tự phát, tự giác của nền kinh tế hiểu đợc phơng thức và tìm ra đợc ph-
ơng pháp kiểm soát thích hợp là điều hết sức ý nghĩa. Hiện nay, chúng ta đã
thực sự làm chủ đợc những tác động tự giác, cũng nh những tác động tự phát
của nền kinh tế thị trờng. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có quá nhiều hiện tợng
và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng sự kiểm soát hoặc cha thực sự có
khả năng kiểm soát sự vận động của chúng.
Trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc việc chúng ta bắt
đầu sử dụng thị trờng nh là một công cụ , một phơng thức để đảm bảo tăng tr-
ởng kinh tế trên thực tế đã đem lại những kết quả tích cực cả về phơng diện
nhận thức lẫn phơng diện thực tiễn.
Thực tiễn 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho chúng ta thấy, sản
xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trờng không đối lập với CNXH. Nền kinh tế của thời kì quá độ lên CNXH
là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, là sản phẩm của nền văn minh nhân
loại, là cơ hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị tr-
9
ờng rõ ràng là xu thế phát triển khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây
dựng CNXH ở nớc ta.
Nh vậy cơ chế thị trờng ở nớc ta tuy đã hình thành nhng còn ở giai đoạn
sơ khai, còn mang nhiều yếu tố tự phát. Cơ chế chính sách kinh tế chậm đổi
mới, cải cách hành chính còn chậm chạp đang là trở ngại cho đổi mới và phát
triển kinh tế. Tại hội thảo khoa học về kinh tế thị trờng, hội đồng lí luận TƯ
nhận định rằng: Chúng ta đã chuyển một bớc quan trọng sang kinh tế thị
trờng nhng cha kết thúc bớc chuyển đó. Do vậy còn đan xen những yếu tố
của nền kinh tế chuyển đổi. Những yếu tố của nền kinh tế thị trờng văn minh
còn ít hơn là những yếu tố sơ khai.
Thành tựu của 15 năm đổi mới vừa qua đã có tác dụng làm cho chúng ta
quen dần với các quan hệ sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên nền kinh tế nớc ta vẫn
còn trong quá trình chuyển từ cơ chế quản lí hành chính- bao cấp sang cơ chế
thị trờng. Cơ chế cũ và cơ chế mới đang đan xen vào nhau, có sự chuyển hoá
lẫn nhau, cái cũ dần dần nhờng chỗ cho cái mới ra đời và phát triển, nhng
cũng có sự chi phối, khống chế lẫn nhau. Rõ ràng là cơ chế thị trờng hiện nay
ở nớc ta vẫn còn đang ở những bớc sơ khai, đòi hỏi phải đợc hoàn thiện theo
xu hớng thị trờng văn minh. Mặc dù đã có những yếu tố của thị trờng hiện đại
xuất hiện trong nền kinh tế nớc ta nh: giao lu buôn bán với nhiều nớc phát
triển, đã gia nhập vào khu vực mậu dịch tự do AFTA, là thành viên chính thức
của khối ASEAN nhng tính chất quá độ của nền kinh tế đang tiến tới cơ chế
thị trờng còn khá rõ.
III- mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trờng định hớng xhcn ở việt nam

1) Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trờng theo định hớng XHCN ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt nam trong quá trình hình
thành và xây dựng đã phát sinh ra nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn thúc đẩy hoặc
kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Nền kinh tế thị trờng có những mặt tiêu
cực mâu thuẫn với bản chất của CNXH mà cho đến nay đảng và nhà nớc ta
vẫn cha có giải pháp hữu hiệu để hạn chế và ngăn chặn kịp thời.
1.1) Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
10
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lí của Nhà nớc theo định
hớng XHCN ở nớc ta hiện nay thì vấn đề lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất
là một vấn đề rất phức tạp. Mâu thuẫn giữa hai mặt này và những biểu hiện
của chúng xét theo phơng diện của Mac & Lê-Nin. Theo đó lực lợng sản xuất
là nội dung của sự vật, quan hệ sản xuất là hình thức của sự vật, lực lợng sản
xuất quyết định quan hệ sản xuất. Hai hình thức này chính là tiền đề cho sự
phát triển của phơng thức sản xuất. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một
mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nữa sẽ kìm hãm
lực lợng sản xuất phát triển, khi đó cần phải thay một quan hệ sản xuất mới
phù hợp hơn với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, có nghĩa là quan
hệ sản xuất phải vận động phù hợp với lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất vận
động theo đó thành quy luật kinh tế chung cho sự phát triển xã hội. Quá trình
mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến & quan hệ sản xuất lạc hậu kìm
hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt cần đựoc giải quyết bằng chính công cuộc
cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà trong đó chuyển đổi sang kinh tế
thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta là một vấn đề.
1.2) Mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu trớc đây và trong kinh tế
thị trờng :
+ Sở hữu nhà nớc và sở hữu toàn dân

Trong thời kì bao cấp trớc đây, nớc ta và một số nớc khác trong hệ
thống XHCN thờng đồng nhất sở hữu toàn dân với sở hữu nhà nớc. Do vậy
trong một thời gian dài, ngời ta thòng bỏ quên hình thức sở hữu nhà nớc mà
chỉ quan tâm đặc biệt tới sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tai dới hai
hình thức : Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Và cũng bởi vì sở hữu toàn dân
gắn kết với sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta ra sức
quốc doanh hoá nền kinh tế với ý muốn sẽ có CNXH nhiều hơn. Thực ra, nh
thế sở hữu toàn dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể nào cả.
Trong xã hội mà nhà nớc còn tồn tại thì sở hữu toàn dân cha có điều kiện vận
động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nớc
xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong
của sở hữu nhà nớc ở nớc ta chủ yếu thể hiện ở quyền sở hữu đó ở khu vực
quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp Nhà nớc.
+ Về sở hữu tập thể
11
Trớc đây sở hữu tập thể chú ý tồn tại dới hình thức Hợp tác xã (gồm cả
hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ) với nội dung là cả giá trị và
giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Quyền
mua bán hoặc chuyển nhợng t liệu sản xuất trong sản xuất , lu thông diễn ra
phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất bị hạn chế, song đôi khi lại có tình
trạng lạm quyền, sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu Nhà nớc
và sở hữu t nhân trá hình là hiện tợng phổ biến. trong bối cảnh đó, nền kinh tế
thị trờng cần xác định quyền mua bán và chuyển nhợng t liệu sản xuất đối với
tập thể sản xuất kinh doanh. Có nh thế sở hữu tập thể mới có thể trở thành một
hình thức sở hữu có hiệu quả.
Hợp tác xã là hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kì quá độ lên
CNXH. Vì vậy, cần duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây
dựng CNXH nh V.I. Lê-Nin khẳng định: Chế độ của xã viên hợp tác xã
văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa . Hợp tác xã là nhu cầu thiết thực của
nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá . Khi lực lợng sản xuất
trong Nông nghiệp và công nghiệp phát triển tới một trình độ nhất định, nó sẽ
thúc đẩy quá trình hợp tác. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá , các nhu
cầu về vốn, cung ứng vật t, tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi các hộ sản xuất cần
phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Điều đó đã
liên kết những ngòi lao động lại với nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể.
ở nớc ta hiện nay đã có những hình thức hợp tác xã kiểu mới ra đời do nhu
cầu tồn tại và phát triển của cơ chế thị trờng, đợc tổ chức trên cơ sở đóng góp
cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả
lao động và theo cơ phần, mỗi xã viên có quyền nh nhau đối với công việc
chung. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Kinh tế tập thể
phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng trong đó hợp tác xã là nòng
cốt. các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể,
liên kết rộng rãi những ngời lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ; không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn .
1.3) Mâu thuẫn giữa tính tự phát và tính tự giác trong sự phát triển
kinh tế xã hội
Nền kinh tế thị trờng trong điều kiện sản xuất nhỏ là phổ biến nh ở nớc
ta thì tất nhiên cha thoát khỏi tính tự phát t bản chủ nghĩa. Việc định hớng nền
kinh tế nớc ta đi lên CNXH không phải là một sự phát triển tự phát, mà là kết
quả của sự nhận thức và vận dụng một cách tự giác xu hớng và quy luật khách
quan của sự phát triển xã hội trong thời đại ngày nay. Nh vậy, phát triển nền
12
kinh tế thị trờng định hớng XHCN đã bao hàm sự đấu tranh giữa hai mặt đối
lập: Tính tự giác và tính tự phát trong sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong thời gian hiện nay, tính tự giác vẫn còn là cái cần thiết và không
tránh khỏi trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, trong
việc giải quyết những khó khăn về việc làm, trong lu thông hàng hoá Tuy
vậy nếu để nền kinh tế phát triển chủ yếu là tự phát thì không thể thực hiện đ-
ợc mục tiêu của CNXH. Còn hoạt động tự giác là hoạt động dựa trên nhận thức
đúng đắn xu thế tất yếu và quy luật khách quan của đời sống xã hội, nhng nếu
có sai lầm trong nhận thức, nhất là sai lầm trên bình diện quốc gia thì hậu quả
của nó thật khôn lờng.
1.4) Mâu thuẫn của một số mối quan hệ: Lợi ích của ngời lao động
và lợi ích của ngời thuê mớn lao động, giữa sự phát triển kinh tế t nhân với
vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc
Phát triển kinh tế thị trờng trong thời kì quá độ tức là chấp nhận sự tồn
tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có những thành phần kinh tế t bản chủ
nghĩa, chấp nhận các hình thức sở hữu và kinh doanh có thuê mớn lao động và
có sự bóc lột lao động. Trong khi đó mục tiêu lâu dài của cách mạng XHCN là
xoá bỏ bóc lột. ở đây một số mối quan hệ có mâu thuẫn cần đợc nghiên cứu
và giải quyết, đó là mối quan hệ giữa các lợi ích: Lợi ích của ngời lao động và
lợi ích của ngời thuê mớn lao động, mối quan hệ giữa sự phát triển của kinh tế
t nhân với vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc.
Không có cơ sở để khẳng địng rằng trong thời quá độ lên CNXH ở nớc
ta hình thức kinh doanh có thuê mớn lao động sẽ ngày càng giảm đi, cũng là
sai lầm nếu cho rằng chỉ coá thành phần kinhh tế Nhà nớc và thành phần kinh
tế hợp tác xã là phát triển theo định hớng XHCN và sẽ thay thế dần các thành
phần kinh tế còn lại. Theo tôi tát cả các thành phần kinh tế đều phát triển theo
định hớng duy nhất: định hớng XHCN. Cùng với sự trởng thành của CNXH ,
các thành phần kinh tế có thuê mớn lao động ở nớc ta sẽ giảm dần mức độ bóc
lột của nó. Tất nhiên điều này chỉ có thể và hoàn toàn có thể thực hiện đợc
trong điều tiết có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lí của Nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, sự chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc, sự lớn mạnh của
thành phần kinh tế hợp tác xã.
1.5) Mâu thuẫn giữa bình đẳng, công bằng xã hội với tính cách là
mục tiêu của CNXH với tình trạng bất bình đẳng, bất công không thể tránh
khỏi do mặt trái kinh tế thị trờng làm nảy sinh
13
Trong mô hình kinh tế của CNXH quan niệm và thực hiện không đúng
vấn đề dẫn đến tình trạng trì trệ của xã hội. song điều đó không có nghĩa là lí
tởng về bình đẳng xã hội đã trở thành một sai lầm lỗi thời. sự nghiệp đổi mới
CNXH ở nớc ta đòi hỏi phải nhận thức lại vấn đề bình đẳng xã hội, quan hệ
giữa công bằng và bình đẳng xã hội, nhng không phải từ bỏ mục tiêu phấn đấu
cho bình đẳng xã hội.
Phát triển kinh tế thị trờng trong điều kiện xuất phát từ sản xuất nhỏ thì
xã hội cha thể tránh khỏi những yếu tố của kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa, sự
cạnh tranh ( kể cả cạnh tranh không lành mạnh ), sự phá sản, tình trạng thất
nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân c và nhất là
không thể tránh khỏinhững tệ nạn xã hội do mặt trái của kinh tế thị trờng gây
ra dẫn đến sự bình đẳng phát triển thành sự phân cực xã hội, không cho phép
những ngời lao động vào tình trạng thất nghiệp, không chấp nhận tình trạng
tiêu cực gia tăng đã làm cho mâu thuẫn xuất hiện. Kinh tế thị trờng là phơng
tiện, là con đờng thực hiện các mục tiêu của CNXH. chủ nghĩa xã hội không
chỉ phấn đấu đạt trình độ phát triển cả về đời sống vật chất và tinh thần mà vấn
đề quan trọng hơn là công bằng xã hội. trong định hớng XHCN có sự phát
triển của xã hội ta, tất nhiên có nhiều mục tiêu cần hớng tới trong đó có vấn đề
bình đẳng xã hội.
1.6) Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trờng và mục tiêu xây dựng con ngời
XHCN
Con ngời giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, vì con
ngòi là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn vật chất và văn hoá. Con ngời
phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong
cuộc sống về dao đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục
tiêu của CNXH. Có thể nói con ngời là điểm xuất phát để xây dựng xã hội chủ
nghĩa.
Kinh tế thị trờng là loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh
tế giữa con ngời với con ngời đợc biểu hiện thông qua thị trờng, mua bán, trao
đổi hàng hoá tiền tệ, phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội,
là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trởng kinh tế thúc đẩy xã hội tiến lên.
Nhng kinh tế thị trờng cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự
phát mù quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp,
khủng hoảng chu kỳ. Có thể nói kinh tế thị trờng là con dao hai lỡi, có lúc,
những nơi kinh tế thị trờng làm cho con ngời ta năng động hơn, tốt đẹp hơn.
Nhng có những nơi, những lúc có thể làm cho con ngời tha hoá bản chất, biến
con ngời thành gã nô lệ sùng bái đồng tiền, hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét