Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Bài giảngThanh toán quốc tế-Tiến Sỹ Phan Thị Minh Lý - Chương 5

146
Chúng ta xem xét một ví dụ cụ thể sau đây. Chẳng hạn chúng ta chọn 3 đồng tiền đ ưa
vào rổ tiền tệ bao gồm HKD, JPY v à THB, giá trị hợp đồng là 100,000USD. Tỷ giá các đồng
tiền này vào thời điểm ký hợp đồng t
0
và thời điểm thanh toán t
1
như sau:

Tên ngoại tệ Tỷ giá USD
Tỷ lệ biến động Dt
Ngày ký hợp đồng Ngày thanh toán USD (%)
HKD 7.7460 7.3771 -4.8
JPY 121.8 129.1 +6.0
THB 389.2 396.9 +2.0
Cả “rổ” 172.92 177.79 +0.8

Mức bình quân tỷ lệ biến động của tỷ giá hối đoái cả “rổ” tiền tệ trong tr ường hợp này
là +0.8, như vậy tổng giá trị hợp đồng sẽ đ ược điều chỉnh giảm đi 0.8 %, tức l à tương đương
800USD, có nghĩa là giá trị hợp đồng vào lúc thanh toán sẽ là 99,200USD.

Cách thứ hai là tổng giá trị hợp đồng được điều chỉnh căn cứ vào tỷ lệ biến động của
bình quân tỷ giá hối đoái của cả “rổ” tiền tệ vào lúc thanh toán so với lúc ký kết hợp đồng.
Trước hết tính bình quân tỷ giá hối đoái của cả “rổ” tiền tệ vào lúc ký kết hợp đồng:
T
0
= (A
0
+ B
0
+ C
0
+ D
0
+ …

N
0
)/n
Sau đó tính bình quân tỷ giá hối đoái của cả “rổ” tiền tệ vào lúc thanh toán:
T
1
= (A
1
+ B
1
+ C
1
+ D
1
+ …

N
1
)/n
tiền tệ vào lúc thanh toán so với lúc ký kết hợp đồng là:

T = 100 - {(T
1
/T
0
) x 100}

Nếu T > 0, cần điều chỉnh tăng giá trị hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm t ương ứng, nếu
ngược lại cần điều chỉnh giảm giá trị hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm t ương ứng, nếu tỷ lệ biến
động bình quân tỷ giá hối đoái của cả “rổ” tiền tệ bằng 0, giá trị hợp đồng không phảI điều
chỉnh.
Trong trường hợp nêu trên, chúng ta tính được tỷ lệ biến động bình quân tỷ giá hối
đoái của cả “rổ” là -2.8%, như vậy cần điều chỉnh giảm giá trị hợp đồng đi 2.8%, hay
2,800USD và giá trị hợp đồng thanh toán sẽ là 97,200USD.

Điều kiện đảm bảo căn cứ vào tiền tệ quốc tế: SDR, EUR .
Tổng giá trị hợp đồng được tính toán và thanh toán bằng một ngoại tệ nào đó, đồng
thời chọn SDR (hay EUR) làm tiền tệ đảm bảo đồng tiền của hợp đồng. Tổng giá trị hợp đồng
sẽ được điều chỉnh căn cứ vào mức chênh lệch giữa tỷ giá của SDR (hay EUR) và đồng tiền
hợp đồng vào ngày thanh toán so với ngày ký kết hợp đồng.
Ví dụ:
Tổng giá trị hợp đồng là 100,000USD
Tỷ giá ký kết hợp đồng SDR/USD = 1.20
Tỷ giá thanh toán SDR/USD = 1.8
Tổng giá trị hợp đồng được điều chỉnh:
(100,000 x 1.8)/1.2 = 150,000USD

Điều kiện đảm bảo căn cứ vào sự biến động của giá cả:
Điều kiện đảm bảo v àng và ngoại hối không thể đảm bảo giá trị thực tế của đồng t iền
thu về trong tình hình tỷ giá và hàm lượng vàng được quy định một cách giả tạo. Vì vậy, để
đảm bảo giá trị thực tế của đồng tiền thanh toán trong hợp đồng còn có thể dùng hai cách.
147
Cách thứ nhất, số tiền phải trả căn cứ vào tình hình biến động của chỉ số giá cả mà
thay đổi một cách tương ứng. Trong ngoại thương ít dùng cách này bởi vì chỉ số giá cả thay
đổi không bao giờ phản ánh đầy đủ và chính xác sự biến động tiền tệ.
Cách thứ hai, số tiền phải trả căn cứ vào tình hình biến động của giá cả hàng đó trên
thị trường hay của giá thành sản xuất loại hàng đó. Trong tình hình lạm phát tiền tệ thường
xuyên và phổ biến ở các nước hiện nay, điều kiện đảm bảo này chỉ đảm bảo quyền lợi của
người xuất khẩu, đặc biệt là trong việc ký kết hợp đồng dài hạn, nhưng không có lợi cho
người nhập khẩu.

5.2. Điều kiện địa điểm thanh toán

Trong thanh toán quốc tế giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình,
lấy nước mình làm đại điểm thanh toán vì có những điều lợi sau:
(1) Có thể đến ngày trả tiền mới phải chi tiền ra, đỡ đọng vốn nếu l à người nhập khẩu
hoặc có thể thu tiền về nhanh chóng nên luân chuyển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu
(2) Ngân hàng nước mình thu được lệ phí nghiệp vụ
(3) Có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế
giới.
Trong thanh toán ngoại thương, địa điểm thanh toán có thể ở nước người nhập khẩu
hoặc ở nước người xuất khẩu hoặc ở nước thứ ba. Nhưng trong thực tế, việc xác định địa
điểm thanh toán là do sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời cũng thấy rằng
dùng đồng tiền thanh toán của nước nào thì địa điểm thanh toán thường là nước ấy.

5.3. Điều kiện phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất trong các điều kiện thanh toán
quốc tế. Phương thức thanh toán chỉ rõ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua
dùng cách nào để trả tiền. Người ta có thể có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, nhưng
việc lựa chọn phương thức nào phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy
đủ, đúng và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đủ số lượng, chất lượng và đúng hạn.

Phương thức chuyển tiền thường được sử dụng trong các trường hợp sau:

(1) Trả tiền hàng nhập khẩu với nước ngoài. Khi sử dụng phương thức này cần chú ý:
Thời điểm chuyển tiền: Thường là sau khi nhận xong hàng hóa, hoặc là sau khi nhận
chứng từ gửi hàng
Số tiền đượcchuyển dựa vào: giá trị của hóa đơn thương mại hoặc kết quả của việc
nhận hàng về số lượng và chất lượng để quy ra số tiền phải chuyển.
Chuyển tiền bằng thư hay bằng điện, nếu chuyển bằng thư chậm hơn chuyển tiền bằng
điện
Không áp dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu với nước ngoài vì dễ bị người mua
chiếm dụng vốn.
(2) Thanh toán trong lĩnh vực thương mại về các chi phí có liên quan đến xuất nhập
khẩu
(3) Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu phí thương mại
(4) Chuyển kiều hối


148
Phương thức ghi sổ thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
(1) Thanh toán nội địa
(2) Hai bên mua, bán phải thực sự tin cậy lẫn nhau
(3) Dùng cho phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xxuyên trong một
thời gian nhất định (6 tháng, 1 năm). Phương thức này chỉ có lợi cho người mua
(4) Dùng trong thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài
(5) Dùng trong thanh toán phi m ậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền
hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, ủy thác, tiền lãi cho vay và đầu tư.

Phương thức nhờ thu trơn
Phương thức này thường chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau:
(1) Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc l à có quan hệ liên doanh với nhau giữa
công ty mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau
(2) Thanh toán về các dịch vụ có liên quan tới xuất nhập khẩu hàng hóa, vì việc thanh
toán này không cần thiết phải kèm theo chứng từ như tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, phạt bồi
thường v.v

Phương thức nhờ thu kèm chứng từ
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ tuy có nhiều ưu điểm so với phương thức nhờ thu
trơn, tuy vậy nó cũng có một số mặt yếu m à chúng ta cần chú ý khi sử dụng ph ương thức này
như việc trả tiền chậm chạp vì người mua có thể kéo dài hoặc không trả tiền khi thị trường
không có lợi cho họ. Do vậy

Phương thức tín dụng chứng từ
Đây là phương thức hiện đang được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế, tuy nhiên
khi sủ dụng phương thức này trong giao dịch cần nghiên cứu kỹ các văn bản pháp lý quốc tế
có liên quan và khi áp dụng nó các bên đương sự phải thỏa thuận ghi vào L/C đồng thời có thể
thỏa thuận khác, miễn là có dẫn chiếu.

5.4. Điều kiện thời gian thanh toán

Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ tới việc luân chuyển vốn, lợi tức,
khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán, do đó nó là vấn đề quan
trọng và thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.
Trong thanh toán quốc tế, điều kiện thời gian thanh toán các nghiệp vụ ngoại thương
phức tạp hơn cả. Thường có ba cách quy định bao gồm thời gian trả tiền tr ước, thờI gian trả
tiền ngay và thờI gian trả tiền sau.

4.4.1 Thời gian trả tiền trước
Trả tiền trước là sau khi ký hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt
hàng của bên nhập khẩu, nhưng trước khi giao hàng thì bên nhập khẩu đã trả cho bên xuất
khẩu toàn bộ hay một phần số tiền hàng.
Trả tiền trước có thể là với mục đích của ng ười nhập khẩu cấp tín dụng ngắn hạn cho
người xuất khẩu. Nhưng cũng có loại trả tiền trước với mục đích nhằm đảm bảo thực hiện hợp
đồng của người nhập khẩu. Thời gian trả tr ước thường được quy định thường là một số ngày
nhất định sau ngày ký hợp đồng hoặc sau ngày hợp đồng có hiệu lực. Cần phân tích thời gian
trả trước và thời gian cấp tín dụng ứng tr ước này. Thời gian cấp tín dụng tính từ ng ày bắt đầu
ứng trước tiền đến ngày người bán hoàn trả tiền ứng trước. Số tiền trả tr ước lớn hay nhỏ phụ
thuộc vào nhu cầu vay của người bán và khả năng cấp tín dụng của người mua.
149
Người mua có thể trả tiền trước cho người bán X ngày trước ngày giao hàng. Ngày
giao hàng này thường được hiểu là ngày giao hàng chuyến đầu tiên quy định trong hợp đồng.
Mục đích của loại trả trước này là nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Thời gian trả
tiền trước này thường là rất ngắn, có thể từ 10 đến 15 ngày. Người bán chỉ giao hàng khi nhận
được báo Có số tiền ứng trước. Có thể và thông thường là không tính lãi với số tiền ứng trước.
Trong trường hợp người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người
mua, họ cũng thường bắt người mua trả tiền ứng trước một số tiền nhất định.

5.4.2. Thời gian trả tiền sau

Việc người mua trả tiền đ ược thực hiện sau khi đã giao hàng một thời gian nhất định.
Thực chất, đây là tình huống mà người bán cấp tín dụng cho người mua.
Việc trả tiền này có thể tiến hành một số ngày nhất định sau khi người mua nhận được
thông báo của người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng tại nơi qui định, có thể là sau thời
điểm nhận bộ chứng từ một thời gian nhất định, có thể là sau một số ngày nhất định kể từ
ngày chấp nhận hối phiếu hoặc kể từ ngày nhận hàng.

5.4.3. Thời gian trả ngay
Thời gian trả ngay tức l à người bán tiến hành thanh toán ngay sau khi giao hàng. Khi
nào là thời điểm mà người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua tuỳ thuộc v ào
cách giao hàng, hay còn gọi là điều kiện giao hàng mà chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây.
Trên thực tế, người ta có thể phối hợp các cách trả tiền tr ên đây cho phù h ợp với từng
hợp đồng mua bán cụ thể.

5.4.4. Giới thiệu về Incoterms 2000
Incoterms là gì?
Incoterms 2000 là Những điều kiện thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế
(ICC) xuất bản và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2000 (Nguyễn Thành Lân & Tô Bình Minh.
2000). Mục đích của Incoterms l à cung cấp một hệ thống trọn vẹn các qui tắc quốc tế để giải
thích các điều kiện thương mại thường được sử dụng rộng rãi nhất trng ngoại thương. Như
vậy có thể tránh được sự thiếu nhất quán trong việc giải thích các điều kiện này ở các nước
khác nhau hoặc ít nhất có thể giảm một mức đáng kể.
Incoterms được Phòng Thương mại quốc tế ban hành lần đầu tiên vào năm 1936, lập tức
nó được nhiều nhà doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ
hiểu, phản ánh được các tập quán thương mại phổ biến trong buôn bán quốc tế. Khi môi
trường và điều kiện kinh doanh quốc tế thay đổi, Incoterms cũng đ ược hoàn thiện và đổi mới
theo biểu hiện tính năng động và thựuc tiễn. Từ khi ra đời đến nay Incoterms đ ã trải qua 6 lần
sửa đổi nhằm phù hợp những điều kiện này với thực tiến thương mại quốc tế hơn. Các lần sửa
đổi được tiến hành năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và l ần gần đây nhất là vào năm 2000.
Ở văn bản ban hành lần đầu tiên vào năm 1936, Incoterms chỉ qui định 7 điều kiện thương
mại, đến Incoterms 1953 gồm 9 điều kiện , Incoterms 1967 gồm 11 điều kiện, Incoterms 1980
gồm 13 điều kiện, Incoterms 1990 và 2000 đều bao gồm có 13 điều kiện hay còn gọi là 13
cách giao hàng.
Trong Incoterms 2000, các điều kiện thương mại trình bày nghĩa vụ của người bán và
người mua theo 10 nhóm một cách đối ứng trên cùng một trang sách. Điều này cho phép thấy
một cách dễ d àng và rõ ràng mỗi nghĩa vụ áp đặt đôi ư với bên này sẽ giải phóng cho đối tác
chính nghĩa vụ đó.


150
Một số khuyến cáo khi sử dụng Incoterms 2000
Thứ nhất, phạm vi áp dụng của Incoterms chỉ giới hạn đối với hàng hoá hữu hình,
không áp dụng khi mua bán hàng hoá vô hình.
Thứ hai, các điều kiện thương mại của Incoterms chỉ đề cập những nghĩa vụ chủ yếu có
liên quan đến mua bán hàng hoá như: giao nhận hàng, nghĩa vụ về vận tải hàng hoá, nhận các
chứng từ, thủ tục xuất nhập khẩu, chuyển rủi ro về hàng hoá. Do vậy Incoterms không thể
thay thế được các hợp đồng thương mại.
Thứ ba, Do Incoterms không chứa đựng những tập quán th ương mại riêng rẽ được hiểu
một cách khác nhau, vì vậy khi sử dụng Incoterms các dn nên qui định rõ trong hợp đồng
ngoạI thương về chi phí bốc dỡ, san, xếp h àng, thuê tàu, đ ịa điểm chuyển rủi ro nếu muốn áp
dụng khác đi so vớI qui định của Incoterms.
Thứ tư, Incoterms chỉ là những điều kiện thương mại được tập hợp và ỉình bày một cách
khoa học và có hệ thống, nó là một văn bản mang tính chất pháp lý tuỳ ý, khuyến khích các
doanh nghiệp áp dụng chứ không phải là văn bản luật mang tính chất bắt buộc, vì vậy nếu hai
bên mua bán đồng ý sử dụng Incoterms thì phải dẫn chiếu rõ trong hợp đồng kèm theo năm
sửa đổi của bản Incoterms mà hai bên dẫn chiếu vì cho đến nay đã có 6 lần sửa đổi
Incoterms. Hai bên có quyền thực hiện hoàn toàn hoặc không hoàn toàn một điều kiện nào đó
qui định trong Incoterms, trong trường hợp này hai bên phải ghi rõ trng hợp đồng thương mại.
Đặc biệt các bên đối tác cần lưu ý, theo tập quán thương mại riêng biệt áp dụng trên thực tế có
tới 4 giá FOB và 9 giá CIF khác nhau.

Kết cấu và nội dung của Incoterms 2000
Incoterms 2000 gồm có 13 điều kiện giao hàng mẫu, chia thành 4 nhóm: C, D, E, F.
Trong đó, nhóm E gồm 1 điều kiện (EXW), nhóm F gồm 3 điều kiện (FCA, FAS, FOB),
nhóm C gồm 4 điều kiện (CFR, CIF, CPT, CIP) và nhóm D gồm 5 điều kiện (DAF, DES,
DEQ, DDU, DDP). Các điều kiện giao hàng được sắp theo từ nhóm E đến nhóm D theo đó
nghĩa vụ của người bán tăng dần, ngược lại nghĩa vụ của người mua giảm dần. Nếu ở điều
kiện nhóm E người bán chịu nghĩa vụ thấp nhất và người mua chịu nghĩa vụ cao nhất thì
ngược lại ở điều kiện nhóm D ng ười mua chịu nghĩa vụ thấp nhất và người bán chịu nghĩa vụ
cao nhất.
Nội dung quan trọng nhất của Incoterms 2000 mà chúng ta cần quan tâm là thời điểm
chuyển rủi ro từ người bán sang người mua để tránh những tranh chấp có thể phát sinh sau
này liên quan đến hợp đồng mua bán đã ký.
Sau đây chúng tôi trình bày khái quát 13 cách giao hàng theo Incoterms 2000.
Nhóm E: gồm 1 điều kiện
1. EXW (Giao tại xưởng)
Nhận xét: người bán chịu chi phí tối thiểu, giao h àng tại xưởng, tại kho của mình là hết
nghĩa vụ, địa điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua là ở nước người bán, nước xếp
hàng.
Nhóm F: gồm 3 điều kiện
2. FCA (Giao cho người chuyên chở, tại địa điểm qui định ở nước xuất khẩu)
3. FAS (Giao dọc mạn tàu, tại cảng xếp hàng qui định)
4. FOB (Giao lên tàu, tại cảng xếp hàng qui định)
Nhận xét: người bán không trả cước phí vận tải chính, địa điểm chuyển rủi ro từ người
bán sang người mua là ở nước người bán, nước xếp hàng.
Nhóm C: gồm 4 điều kiện
151
5. CFR (Tiền hàng và cước phí, cảng đích qui định)
6. CIF (Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí, cảng đích qui định)
7. CPT (Cước phí trả tới, nơi đích qui định)
8. CIP (Cước phí và phí bảo hiểm trả tới, nơi đích qui định)
Nhận xét: người bán phải trả cước phí vận tải chính, địa điểm chuyển rủi ro từ người
bán sang người mua là ở nước người bán, nước xếp hàng.
Nhóm D: gồm 5 điều kiện
9. DAF (Giao tại biên giới, địa điểm qui định)
10. DES (Giao tại tàu, tại cảng đích qui định)
11. DEQ (Giao tại cầu cảng, tại cảng đích qui định)
12. DDU (Giao hàng chưa nộp thuế, tại nơi đích qui định)
13. DDP (Giao hàng đã nộp thuế, tại nơi đích qui định)
Nhận xét: người bán chịu mọi chi phí để đ ưa hàng đến địa điểm đích qui định, địa điểm
chuyển rủi ro từ người bán sang người mua là ở nước người mua, nước dỡ hàng.
Sử dụng Incoterms ở Việt Nam
Theo Võ Thanh Thu & Đoàn Thị Hồng Vân (2002), hiện nay khoảng trên 80% các
thương vụ, doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn giá FOB khi xuất khẩu v à giá CIF hoặc CFR khi
nhập khẩu. Nguyên nhân là do:
Thứ nhất là các doanh nghiệp Việt Nam hiểu không đúng về các qui định của Incoterms
và cho rằng khi xuất khẩu dùng giá FOB sẽ mau chuyển rủi ro sang cho người mua, nhập
khẩu theo giá CIF hoặc CFR sẽ an toàn hơn vì người bán sẽ chịu rủi ro đến tận cảng nhập
khẩu. Trên thực tế, chúng ta thấy đối với cả 3 điều kiện FOB, CIF hay CFR, địa điểm chuyển
rủi ro đều là ở nước người xếp hàng.
Thứ hai là do am hiểu về nghiệp vụ thu ê phương tiện vận tải và mua b ảo hiểm của các
doanh nghiệp Việt Nam còn kém, trình độ sinh ngữ cũng yếu làm ảnh hưởng đến việc lựa
chọn điều kiện giao hàng của các doanh nghiệp này.
Thứ ba là do việc mua bán của các doanh nghiệp Việt Nam th ường thực hiện qua trung
gian nước ngoài.
Thứ tư là do thế và lực trong kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu như
thiếu vốn, hàng hoá xuất khẩu chất lượng chưa cao v.v.
Với việc lựa chọn các điều kiện th ương mại như vậy sẽ có nhiều bất lợi cả ở tầm vĩ mô
và vi mô. Đối với nhà nước sẽ thất thu ngoại tệ do xuất khẩu giá thấp mà nhập khẩu giá cao,
không tạo điều kiện gia tăng doanh số dịch vụ cho các hãng tàu và hãng bảo hiểm của Việt
Nam. Đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn n ày làm giảm khả năng tự cân đối ngoại tệ do
nhập khẩu chịu chi phí nhiều, xuất khẩu thu g iá thấp, doanh nghiệp bị động với phương tiện
vận tải, gặp khó khăn trong việc khiếu nại đ òi bồi thường nếu xảy ra tranh chấp với các h ãng
tàu và bảo hiểm nước ngoài.
Do vậy, để cải thiện tình hình bất lợi này, các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao
trình độ nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như trình độ sinh ngữ, hiểu đúng về các
điều kiện giao hàng qui đ ịnh trong Incoterms, nâng cao thế và lực trong kinh doanh để giành
được quyền chủ động trng lựa chọn điều kiện thương mại có lợi cho m ình. Khi đó các doanh
nghiệp nên chọn điều kiện nhóm C khi xuất khẩu và ngược lại các điều kiện nhóm F khi nhập
khẩu, như vậy sẽ bán được với giá cao và mua với giá thấp hơn, đồng thời tạo điều kiện để gia
tăng hoạt động cho các háng tàu và hãng bảo hiểm của Việt nam.


152
5.5. Thảo luận nhóm
Chủ đề: Incoterms 2000

5.6. Tóm tắt chương 5

Chương 5 đề cập các vấn đề về điều kiện trong thanh toán quốc tế nhằm đảm bảo quyền
lợi/nghĩa vụ của các bên tham gia trong thanh toán quốc tế. Các điều kiện về tiền tệ nhằm
giảm thiểu rủi ro khi giá trị các đồng tiền sử dụng trong thanh toán thay đổi. Các điều kiện về
địa điểm, thời gian và phương thức thanh toán giúp các b ên thanh toán nhanh và an toàn v ới
mức chi phí hợp lý nhất. Chương này đặc biệt nhấn mạnh về Incoterms 2000 bởi vì đây là một
văn bản pháp lý quan trọng do Phòng Thương mại quốc tế ban hành giúp các bên đối tác
trong thanh toán dễ hiểu nhau h ơn. HIện nay nó được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới để
giải thích các điều kiện thương mại và như vậy tránh được sự thiếu nhất quán trong cách hiểu
các điều kiện này ở các nước khác nhau.

5.7. Bài tập chương 5

Bài tập 5.1
Đọc lại các hợp đồng thương mại trong các bài tập thuộc chương 4 và chỉ rõ các điều
kiện thanh toán quốc tế được các bên mua và bên bán vận dụng như thế nào trong các hợp
đồng này và cho biết nhận xét của mình.
Bài tập 5.2
Hãy phân tích các tình huống sau đây dựa trên các điều kiện thương mại theo Incoterms
2000:
1. VN xuất khẩu 10,000 tấn gạo cho Pháp theo điều kiện FOB cảng Hải Phòng, đã giao lên
tàu, trời đổ mưa, một cửa hầm tàu không kịp đóng làm 300 tấn gạo bị ướt. Ai chịu rủi ro này?
2. Công ty ABC của VN nhập khẩu một lô h àng của Úc, theo điều kiện CIF, trên đường vận
chuyển do phải tránh bão nên đi vòng mất nhiều ngày, chất lượng hàng giảm. Hỏi Công ty
ABC có thể từ chối nhận hàng không?
3. Công ty dược TTH nhập khẩu một lô hàng của Mỹ theo điều kiện « DDU Kho 125 Lê Lợi,
Huế », khi làm thủ tục hải quan ở Cảng Đà Nẵng thì gặp trục trặc không thông quan nhập
khẩu được. Ai là người chịu rủi ro?

5.8. Câu hỏi ôn tập chương 5
1. Thế nào là điều kiện thanh toán quốc tế?
2. Trình bày điều kiện tiền tệ trong thanh toán quốc tế?
3. Trình bày điều kiện địa điểm thanh toán và phương thức thanh toán?
4. Trình bày điều kiện thời gian thanh toán?
5. Incoterms là gì? Trình bày khái quát nội dung của Incoterms 2000?
6. Khi sử dụng Incoterms 2000, cần lưu ý những điểm nào?
7. Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam lại thường sử dụng hai điều FOB khi xuất khẩu và điều
kiện CIF khi nhập khẩu? Điều n ày có lợi cho các doanh nghiệp không? Tại sao? Cách n ào để
cải thiện tình hình này?


153
5.9. Tài liệu đọc thêm (dành cho sinh viên)
Phụ lục 5.1. Incoterms 2000 (Trích lược)

5.10. Tài liệu tham khảo chương 5

1. Nguyễn Thành Lân, Tô Bình Minh. 2000. Những điều kiện Thương mại Quốc tế. Incoterms
2000. Song ngữ Anh - Việt. NXB Khoa học kỹ thuật.
2. Võ Thanh Thu, Đoàn Thị Hồng Vân. 2002.Incoterms 2000 & hỏi đáp về Incoterms. NXB
Thống kê.
3. Đinh Xuân Trình. 1996. Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương. NXB Giáo dục,
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.































154
Phụ lục chương 5
Phụ lục 5.1. Incoterms 2000 - Bản trích lược.
EXW (Giao tại xưởng)
Người bán phải Người mua phải
- Cung cấp hàng và hóa đơn
thương mại hoặc những thông điệp điện
tử tương đương, theo đúng hợp đồng
mua bán và cung cấp mọi bằng chứng
về việc đó nếu hợp đồng yêu cầu;
- Trả tiền hàng như quy định trong hợp đồng
mua bán;
- Giúp đỡ người mua xin giấy
phép xuất khẩu hoặc sự cho phép chính
thức khác, nếu có quy định, bắt buộc
phải có đối với việc xuất khẩu hàng hoá;
- Chịu rủi ro v à chi phí về việc xin giấy phép
xuất khẩu và nhập khẩu hoặc sự cho phép chính
thức khác, nếu có quy định, mọi thủ tục hải quan
đối với việc xuất khẩu hàng hoá;
- không có nghĩa vụ ký Hợp đồng
vận tải, hợp đồng bảo hiểm
- không có nghĩa vụ ký Hợp đồng vận tải,
hợp đồng bảo hiểm
- Đặt hàng hoá dưới quyền
địnhđoạt của người mua tại địa điểm
giao hàng quy định, chưa bốc lên
phương tiện tiếp nhận, vào ngày hoặc
trong thời hạn quy định hoặc, nếu như
không có quy định về thời gian như vậy,
vào thời điểm thông thường cho việc
giao số hàng đó. Nếu không có quy định
về điểm giao hàng cụ thể , và nếu địa
điểm quy định có một số điểm có thể
giao hàng , thì người bán có thể chọn
điểm giao hàng phù hợp nhất cho mình.


- Nhận hàng khi hàng đã được giao như quy
định.




Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc
hư hại đối với hàng hoá cho đến thời
điểm hàng đã được giao như quy định.
Trả mọi chi phí li ên quan tớí hàng
hoá cho đến thời điểm hàng hoá được
giao
- Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc h ư hại đối
với hàng hoá
+ Từ thời điểm hàng đã được giao như quy
định;
+ Từ ngày quy định hoặc ngày cuối cùng của
thời hạn quy định cho việc nhận hàng.Trường hợp
xảy ra khi người mua không thông báo như quy
định, tuy nhiên với điều kiện là hàng hoá đã được
cá biệt hoá rõ ràng là thuộc hợp đồng, tức là được
tách riêng ra hoặc được xác định bằng cách khác l à
hàng hoá của hợp đồng.
Trả:mọi chi phí liên quan đến
hàng hoá cho đến thời điểm hàng hoá đã
được giao như quy định
Trả:
-mọi chi phí liên quan đến hàng hoá kể từ
thời điểm hàng hoá đã được giao như quy định; và
- mọi chi phí phát sinh thêm do người mua
155
không nhận hàng khi hàng hoá đã được đặt dưới
quyền định đoạt của người mua, hoặc do không
thông báo thchs hợp như quy định, tuy nhiên với
điều kiện là hàng hoá đã được cá biệt hóa rõ ràng là
thuộc hợp đồng, nghĩa là được tách riêng ra hoặc
được xác định bằng cách khác là hàng của hợp
đồng.
- nếu có quy định, tất cả các loại thuế quan,
thuế và lệ phí khác cũng như các chi phí làm thủ
tục hải quan phải nộp khi xuất khẩu. Phải hoàn trả
cho người bán mọi chi phí và lệ phí mà người bán
gánh chịu khi giúp đỡ người mua.
- Thông báo đầy đủ cho người về thời
hạn và địa điểm mà hàng hoá sẽ được
đặt dưới quyền định đoạt của người
mua.
- trong trường hợp người mua có quyền quyết định
trong thời hạn quy định và/hoặc địa điểm nhận hàng
thì phải thông báo đầy đủ cho người bán về các chi
tiết đó.
-Không có nghĩ vụ phải cung cấp bằng
chứng của việc giao hàng, chứng từ vận
tải hoặc thông điệp vậntải tương đương.
- cung cấp cho người bán bằng chứng thích hợp về
việc đã chấp nhận việc giao hàng.
-Trả phí tổn cho hoạt động kiểm tra
(kiểm tra chất lượng, đo lường, cân
đong, tính đếm) bắt buộc phải có đối
việcđặt hàng hoá dưới quyền định đoạt
của người mua, bằng chi phí của mình
đóng gói hàng hoá bắt buộc phải có đối
với việc vận chuyển hàng hoá, trong
phạm vi các tình huống liên quan tới
việc vận chuyển đã được người bán biết
trước khi ký hợp đồng mua bán. Bì
đóng hàng phải được ghi kỹ mã hiệu
phù hợp.
- trả phí tổn cho mọi giám định trước khi gửi hàng
kể cả việc kiểm tra được tiến hành theo lệnh của
các cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu.
Nghĩa vụ khác:
- Giúp đỡ người mua theo yêu cầu của
người mua để lấy các chứng từ hoặc
thông điệp điện tử tương đương được
ký phát hoặc truyền đi ở nước gửi hàng
và/hoặc nước xuất xứ mà người mua
cần có để xuất khẩu và/hoặc nhập khẩu
hàng hoá, và nếu cần thiết , để quá cảnh
qua nước khác.
- Cung cấp cho người mua, theo yêu
cầu của người mua các thông tin cần
thiết để mua bảo hiểm cho hàng hoá.
- trả mọi phí tổn và lệ phí phát sinh để lấy các
chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương và
hoàn trả cho người bán những phí tổn mà người bán
đã chịu khi giúp đỡ người mua như quy định.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét