Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
Mục lục

PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU SÁNG TẠO
TRONG KHOA HỌC
I. Khoa học và nghiên cứu khoa học
I.1 Khái niệm khoa học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học
thuyết mới … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này tốt hơn có
thể thay thế dần những cái cũ không còn phù hợp. Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể
không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận.
Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận
động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức có thể
chia ra làm 2 loại: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
* Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng
ngày trong mối quan hệ giữa người với người và giữa con người với thiên nhiên. Tuy
nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc
tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh
nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là
cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
* Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt
động nghiên cứu khoa học, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương
pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 5
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong
hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các
ngành và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
I.2 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa
học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên, xã hội và để
sáng tạo phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
I.3 Đề tài nghiên cứu khoa học
I.3.1 Khái niệm đề tài
Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một người hoặc một nhóm
người thực hiện. Thực hiện đề tài là để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể
chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
I.3.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm
rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.
* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi
nhất định về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu.
I.3.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được
mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết để
phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu
mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể
đo lường hay định lượng. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục
vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ
sản xuất, nghiên cứu.
* Mục tiêu: là thực hiện hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ
hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định
lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 6
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu
trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
Thí dụ: phân biệt mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
Đề tài: “Phương pháp gom cụm tài liệu theo ngữ nghĩa trong ứng dụng tin học”.
- Mục đích của đề tài: giúp cho người dùng quản lý tốt tài liệu cá nhân trong máy
tính.
- Mục tiêu của đề tài:
+ Tìm ra được phương pháp cho phép gom cụm tài liệu theo ngữ nghĩa.
+ Hiện thực được phương pháp nêu ra bằng 1 ứng dụng cụ thể .
II. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới trong khoa học
II.1 Khái niệm
Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới là phần ứng dụng của Khoa học về sáng tạo,
bao gồm hệ thống các phương pháp và các kĩ năng cụ thể giúp nâng cao năng suất và hiệu
quả, về lâu dài tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo của người sử dụng.
II.2 Ý nghĩa
Suốt cuộc đời, mỗi người chúng ta dùng suy nghĩ rất nhiều (có thể nói là hằng
ngày). Từ việc trả lời những câu hỏi bình thường như “Hôm nay ăn gì? Mặc gì? Làm gì?
Mua gì? Xem gì? Đi đâu? ” đến làm các bài tập trên trường lớp, hoặc chọn ngành nghề
đào tạo, lo sức khỏe, việc làm, thu nhập, hôn nhân, nhà ở, giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong công việc, trong quan hệ xã hội, gia đình, nuôi dạy con cái… tất tần tật đều đòi hỏi
phải suy nghĩ và chắc chắn rằng ai cũng muốn suy nghĩ tốt, ra những quyết định đúng để
“đời là bể khổ” trở thành “bể sướng”.
Chúng ta tuy được đào tạo và làm những ngành nghề khác nhau nhưng có lẽ có một
nghề chung, giữ nguyên suốt cuộc đời và là cần thiết cho tất cả mọi người. Đó là “nghề”
suy nghĩ và hành động giải quyết các vấn đề gặp phải trong suốt cuộc đời nhằm thỏa mãn
các nhu cầu chính đáng của cá nhân mình, đồng thời thỏa mãn các nhu cầu để xã hội tồn tại
và phát triển. Nhìn dưới góc độ này, Phương Pháp Luận Sáng Tạo Và Đổi Mới giúp trang
bị loại nghề chung nói trên, góp phần bổ sung cho giáo dục, đào tạo hiện nay, chủ yếu chỉ
đào tạo các nhà chuyên môn. Nhà chuyên môn có thể giải quyết tốt các vấn đề chuyên môn
nhưng nhiều khi không giải quyết tốt các vấn đề ngoài chuyên môn, do vậy không thực sự
hạnh phúc như ý.
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 7
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
Các nghiên cứu cho thấy, phần lớn mọi người thường suy nghĩ một cách tự nhiên
như đi lại, ăn uống, hít thở mà ít khi suy nghĩ về chính suy nghĩ của mình xem nó hoạt
động ra sao để cải tiến, làm suy nghĩ của mình trở nên tốt hơn như người ta thường cải tiến
các dụng cụ, máy móc dùng trong sinh hoạt và công việc. Cách suy nghĩ tự nhiên nói trên
có năng suất, hiệu quả rất thấp và nhiều khi trả giá đắt cho các quyết định sai. Tóm lại,
cách suy nghĩ tự nhiên ứng với việc lao động bằng xẻng thì Phương Pháp Luận Sáng Tạo
Và Đổi Mới là máy xúc với năng suất và hiệu quả cao hơn nhiều. Nếu xem bộ não của mỗi
người là máy tính tinh xảo – đỉnh cao tiến hóa và phát triển của tự nhiên thì phần mềm
(cách suy nghĩ) tự nhiên đi kèm với nó chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiềm năng của bộ
não. Phương Pháp Luận Sáng Tạo Và Đổi Mới là phần mềm tiên tiến giúp máy tính – bộ
não hoạt động tốt hơn nhiều. Nếu như cần “học ăn, học nói, học gói, học mở” thì “học suy
nghĩ” cũng cần thiết cho tất cả mọi người.
Tóm lại, Phương Pháp Luận Sáng Tạo Và Đổi Mới đóng góp rất tích cực trong việc
biến thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức mới với các ích lợi toàn diện,
không chỉ riêng về mặt kinh tế.
III. Những nội dung chính trong Phương Pháp Luận Sáng Tạo
Và Đổi Mới trong Tin học
III.1 Vấn đề khoa học
III.1.1 Khái niệm
Vấn đề khoa học (scientific problem) còn gọi là vấn đề nghiên cứu (research
problem) là câu hỏi đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế
của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn.
III.1.2 Phân loại
Nghiên cứu khoa học luôn tại 2 vấn đề:
+ Vấn đề về bản chất sự vật đang tìm kiếm.
+ Vấn đề về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ về lý thuyết và thực tiễn
những vấn đề thuộc lớp thứ nhất
III.1.3 Các phương pháp phát hiện vấn đề khoa học
Có 6 phương pháp:
1) Tìm những kẻ hở, phát hiện những vấn đề mới
2) Tìm những bất đồng
3) Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 8
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
4) Quan sát những vướng mắt trong thực tiễn
5) Lắng nghe lời kêu ca phàn nàn
6) Cảm hứng: những câu hỏi bất chợt xuất hiện khi quan sát sự kiện nào đó.
III.2 Phương pháp giải quyết vấn đề khoa học về phát minh, sáng chế
III.2.1 Có 5 phương pháp
• Dựng Vepol đầy đủ
• Chuyển sang Fepol
• Phá vở Vepol
• Xích Vepol
• Liên trường
III.2.2 Có 40 thủ thuật
Có 40 thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản, ở đây chỉ trình bày 5 thủ thuật cơ bản
được sử dụng nhiều trong tin học.
 Nguyên tắc 1: Nguyên tắc phân nhỏ
Nội dung:
• Chia các đối tượng thành các thành phần độc lập
• Làm đối tượng thành các thành phần tháo ráp
• Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng
Ví dụ:
Trong kỹ thuật lập trình, ai cũng biết một nguyên tắc cơ bản là modul hóa, nghĩa
là phân nhỏ chương trình thành nhiều modul độc lập gọi là các chương trình con, thể nhiên
chúng là các hàm hoặc các procedure.
 Nguyên tắc 2: Nguyên tắc tách khỏi
Nội dung:
Tách thành phần gây phiền phức ra khỏi đối tượng hoặc ngược lại. Tách lấy
phần cần thiết.
Ví dụ:
Khi xử lý tín hiệu số có thể ta sẽ tách bỏ các nhiễu, phục hồi tín hiệu ban đầu,
sóng mang tín hiệu thì tách sóng để lấy tín hiệu cần thiết.
 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc cục bộ
Nội dung:
• Chuyển đối tượng (hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu
trúc đồng nhất thành không đồng nhất.
• Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chất năng khác nhau
• Mỗi phần của đối tượng phải có các chất năng khác nhau
Ví dụ:
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 9
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
Trong một đọan chương trình, cần phân biệt các phẩm chất cục bộ: ở đâu là lõi
của phần chương trình, phần nào là những thao tác phụ. Chẳng hạn, in tất cả các số nguyên
trong phạm vi [2.10000] và yêu cầu in ra: mỗi hàng có 8 số nguyên tố, mỗi trang có 20
hàng, tạm dừng. Như vậy, lõi của chương trình là phần kiểm tra n có phải số nguyên tố
không, nếu phải thì in ra.
 Nguyên tắc 4: Nguyên tắc phản đối xứng
Nội dung:
Chuyển đối tượng có hìng dạng, tính chất đối xứng thành phản đối xứng
Ví dụ:
Các xe ô tô du lịch loại nhỏ có cửa mở ở cả 2 phía nhưng các xe lớn (bus chẳng
hạn) chỉ mở phía tay phải, sát với lề đường.
 Nguyên tắc 5: Nguyên tắc kết hợp
Nội dung:
• Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động
kế cận.
• Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất của CPU, tận dụng tài
nguyên để cho ra hệ điều hành đa nhiệm, nhiều người dùng.
Ví dụ:
Trong các chương trình máy tính, các ngôn ngữ cấp cao thường cho phép kết
hợp mã nguồn của Assembly.
III.3 Các phương pháp giải quyết vấn đề tổng quát
Với thông tin ban đầu và cần giải quyết, ta có mô hình như sau:

Hình 1. Mô hình giải quyết vấn đề tổng quát
III.3.1 Các phương pháp phân tích vấn đề
+ Phân chia vấn đề
+ Phân loại vấn đề
+ Phân công vấn đề
+ Phân cấp bài toán
+ Phân tích.
III.3.2 Các phương pháp tổng hợp vấn đề
+ Tổ hợp
+ Đối hợp
+ Tích hợp
+ Kết hợp
+ Tổng hợp theo không gian và thời gian
III.4 Các phương pháp giải quyết vấn đề trong tin học
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 10
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
+ Phương pháp trực tiếp
+ Phương pháp gián tiếp
• Phương pháp Thử Sai
• Phương pháp Heuristic
• Phương pháp Trí Tuệ Nhân Tạo
IV. Sử dụng nguyên tắc “phân nhỏ” và “kết hợp” giải quyết
bài toán trong tin học
IV.1 Xây dựng “Mô hình mạng tính toán” theo nguyên tắc phân nhỏ
Một trong những vấn đề “nóng hổi” đang được quan tâm trong “Trí Tuệ Nhân Tạo”
là nghiên cứu các phương pháp biểu diễn và xử lý tri thức. Trên cơ sở đó có thể tạo ra
những chương trình “thông minh” ở một mức độ nào đó. Trong nhiều lĩnh vực ta thường
gặp những vấn đề đặt ra dưới dạng như sau: thực hiện những tính toán hay suy diễn những
yếu tố cần thiết từ một số yếu tố đã biết. Để giải quyết vấn đề này người ta phải vận dụng
một số hiểu biết (tri thức) nào đó về những liên hệ giữa các yếu tố đang được xem xét và
nhờ những liên hệ này giúp ta có thể suy ra được một số yếu tố mới từ giả thiết đã biết.
Để giải quyết vấn đề có dạng như trên, với việc áp dụng nguyên tắc phân nhỏ, Tiến
Sĩ Đỗ Văn Nhơn đã đưa ra mô hình biểu diễn và xử lý tri thức “Mạng Tính Toán”.
IV.1.1 Nhắc lại nguyên tắc phân nhỏ
Nội dung:
+ Chia đối tượng thành các phần độc lập.
+ Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.
+ Tăng mức độ phân nhỏ của đối tượng.
Nhận xét quan trọng:
+ Từ “đối tượng” trong nguyên tắc này cần hiểu theo nghĩa rộng. Đó có thể là bất kì
cái gì có khả năng phân nhỏ được, không nhất thiết phải là đối tượng kĩ thuật.
+ Từ “độc lập” cần được hiểu theo nghĩa tương đối với nhiều mức độ độc lập khác
nhau. Không nên hiểu duy nhất một nghĩa là độc lập tuyệt đối là phần cho trước hoàn toàn
không tương tác với các phần khác, các đối tượng khác.
+ Thủ thuật này thường dùng trong những trường hợp khó làm “trọn gói”, “nguyên
khối”, “một lần”. Nói cách khác, phân nhỏ ra cho vừa sức, cho dễ thực hiện, cho phù hợp
với phương tiện hiện có.
+ Phân nhỏ đặc biệt hay dùng trong những trường hợp có diện tích bề mặt tiếp xúc
lớn như trong các phản ứng hóa học, tạo sự cháy nổ, trao đổi nhiệt…
+ Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, cho nên phân nhỏ có thể làm
đối tượng có thêm những tính chất mới, thậm chí ngược với những tính chất đã có.
+ Nguyên tắc phân nhỏ hay dùng với các nguyên tắc: tách khỏi, phẩm chất cục bộ,
kết hợp, vạn năng, linh động…
IV.1.2 Các vấn đề trong mạng tính toán
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 11
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
Mô hình mạng tính toán được khái quát là một mạng ngữ nghĩa chứa các biến và
những quan hệ có thể cài đặt và sử dụng được cho việc tính toán. Một mạng tính toán bao
gồm một tập hợp các biến cùng với một tập các quan hệ tính toán giữa các biến. Trong ứng
dụng cụ thể, mỗi biến và giá trị của nó thường gắn liền với một khái niệm cụ thể về sự vật,
mỗi quan hệ thể hiện một sự tri thức về sự vật.
IV.1.2.1 Các quan hệ trong mạng tính toán
Cho M = {x
1
,x
2
,…,x
m
} là một tập hợp các biến có thể lấy giá trị trong các miền xác
định tương ứng D
1
, D
2
,…, D
m
. Đối với mỗi quan hệ R ⊆ D
1
xD
2
x…xD
m
trên các tập hợp
D
1
, D
2
,…, D
m
ta nói rằng quan hệ này liên kết các biến x
1
, x
2
,…, x
m
và kí hiệu là R(x
1
, x
2
,
…, x
m
) hay vắn tắt là R(x) (kí hiệu x dùng chỉ bộ biến < x
1
, x
2
,…, x
m
>). Ta có thể thấy rằng
quan hệ R(x) có thể được biểu diễn bởi một ánh xạ f
R,u,v
với u ∪ v = x và ta viết: f
R,u,v
: u→
v, hay vắn tắt là f: u→ v.
Ví dụ: quan hệ giữa 3 góc A, B, C trong tam giác ABC cho bởi hệ thức:
A + B + C =180 (đơn vị độ)

Hình 2. Quan hệ giữa 3 góc A, B, C trong tam giác ABC
IV.1.2.2 Mạng tính toán và các kí hiệu
Như đã nói ở trên, mạng tính toán bao gồm:
+ Một tập hợp các biến M
M = {x
1
,x
2
, ,x
n
}
+ Một tập hợp các quan hệ (tính toán) F trên các biến.
F = {f
1
,f
2
, ,f
m
}
Đối với mỗi f ∈ F, ta ký hiệu M(f) là tập các biến có liên hệ trong quan hệ f. Dĩ
nhiên M(f) là một tập con của M: M(f) ⊆ M. Nếu viết f dưới dạng: f : u(f) → v(f) thì ta có
M(f) = u(f) ∪ v(f).
IV.1.2.3 Bài toán trên mạng tính toán
Cho một mạng tính toán (M,F), M là tập các biến và F là tập các quan hệ. Giả sử có
một tập biến A ⊆ M đã được xác định và B là một tập biến bất kỳ trong M.
Các vấn đề đặt ra
1. Có thể xác định được tập B từ tập A nhờ các quan hệ trong F hay không?
2. Nếu có thể xác định được B từ A thì quá trình tính toán giá trị của các biến thuộc
B như thế nào?
3. Trong trường hợp không thể xác định được B, thì cần cho thêm điều kiện gì để có
thể xác định được B.
Bài toán xác định B từ A trên mạng tính toán (M,F) được viết dưới dạng: A → B
trong đó A được gọi là giả thiết, B được gọi là mục tiêu tính toán của bài toán.
Định nghĩa 1
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 12
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
Bài toán A → B được gọi là giải được khi có thể tính toán được giá trị các biến
thuộc B xuất phát từ giả thiết A. Ta nói rằng một dãy các quan hệ {f
1
, f
2
, , f
k
} ⊆ F là một
lời giải của bài toán A → B nếu như ta lần lượt áp dụng các quan hệ f
i
(i=1, ,k) xuất phát
từ giả thiết A thì sẽ tính được các biến thuộc B. Lời giải {f
1
, f
2
, , f
k
} được gọi là lời giải
tốt nếu không thể bỏ bớt một số bước tính toán trong quá trình giải, tức là không thể bỏ bớt
một số quan hệ trong lời giải.
Việc tìm lời giải cho bài toán là việc tìm ra một dãy quan hệ để có thể áp dụng suy
ra được B từ A. Điều này cũng có nghĩa là tìm ra được một quá trình tính toán để giải bài
toán.
Định nghĩa 2
Cho D = {f
1
, f
2
, , f
k
} là một dãy quan hệ của mạng tính toán (M,F), A là một tập
con của M. Ta nói dãy quan hệ D là áp dụng được trên tập A khi và chỉ khi ta có thể lần
lượt áp dụng được các quan hệ f
1
, f
2
, , f
k
xuất phát từ giả thiết A.
IV.1.2.4 Lời giải của bài toán
Tiếp theo trình bày cách tìm ra lời giải cho bài toán A → B trên mạng tính toán
(M,F).
Mệnh đề: dãy quan hệ D là một lời giải của bài toán A → B khi và chỉ khi D áp
dụng được trên A và D(A) ⊇ B.
Do mệnh đề trên, để tìm một lời giải ta có thể làm như sau: Xuất phát từ giả thiết A,
thử áp dụng các quan hệ để mở rộng dần tập các biến có giá trị được xác định, quá trình
này tạo ra một sự lan truyền tính xác định trên tập các biến cho đến khi đạt đến tập biến
B. Dưới đây là thuật toán tìm một lời giải cho bài toán A

B trên mạng tính toán (M,F).
Thuật toán 1: Tìm một lời giải cho bài toán A→ B
Nhập:
+ Mạng tính toán (M,F)
+ Tập giả thiết A ⊆ M
+ Tập biến cần tính B ⊆ M.
Xuất: Lời giải cho bài toán A → B
Thuật toán:
1. Solution ← empty; // Solution là dãy các quan hệ sẽ áp dụng
2. if B ⊆ A then
begin
Solution_found ← true; //biến Solution_found = true khi bài toán là giải được
goto 4;
end
else
Solution_found ← false;
3. Repeat
Aold ← A;
Chọn ra một f ∈ F chưa xem xét;
while not Solution_found and (chọn được f) do
begin
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 13
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học CNTN01
if ( f đối xứng and 0 < Card (M(f) \ A) ≤ r(f) ) or
( f không đối xứng and ∅ ≠ M(f) \ A ⊆ v(f) ) then
begin
A ← A ∪ M(f);
Solution ← Solution ∪ {f};
end;
if B ⊆ A then
Solution_found ← true;
Chọn ra một f ∈ F chưa xem xét;
end; { while }
Until Solution_found or (A = Aold);
4. if not Solution_found then
Bài toán không có lời giải;
else
Solution là một lời giải;
Thuật toán 2: Tìm một lời giải tốt từ một lời giải đã biết
Nhập:
+ Mạng tính toán (M,F)
+ Lời giải {f
1
, f
2
, , f
m
} của bài toán A→ B.
Xuất: Lời giải tốt cho bài toán A → B
Thuật toán:
1. D ← {f
1
, f
2
, , f
m
};
2. for i=m downto 1 do
if D \ {f
i
} là một lời giải then
D ← D \ {f
i
};
3. D là một lời giải tốt.
Thuật toán 3: Kiểm tra lời giải cho bài toán
Nhập:
+ Mạng tính toán (M,F)
+ Bài toán A→ B
+ Dãy các quan hệ {f
1
, f
2
, , f
m
}.
Xuất: thông tin cho biết {f
1
, f
2
, , f
m
} có phải là lời giải của bài toán A→ B hay
không?
Thuật toán:
1. for i=1 to m do
if ( f
i
đối xứng and Card (M(f
i
) \ A) ≤ r(f
i
) ) or
( f
i
không đối xứng and M(f
i
) \ A ⊆ v(f
i
) ) then
A ← A ∪ M(f
i
);
2. if A ⊇ B then
{f
1
, f
2
, , f
m
} là lời giải
else
{f
1
, f
2
, , f
m
} không là lời giải;
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét