Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Toàn cầu hóa

Từ những đặc điểm nêu trên, vấn đề vai trò mới của Nhà nớc đã trở thành
điểm nổi bật của toàn cầu hoá. Trớc tiên, những tình thế mới do chủ nghĩa khủng
bố nổi lên khác thờng kể từ sau sự kiện ngày 11/9/2001 tại NewYonk (Mỹ), cùng
hàng loạt những vụ đẫm máu ở nhiều nơi trên thế giới suốt mấy năm qua khiến nền
an ninh hậu chiến tranh lạnh dờng nh đang tuột khỏi tầm tay, đồi hỏi Nhà nớc
phải quan tâm đúng mức hơn đến vấn đề an ninh nói chung và an ninh kinh tế nói
riêng. Tiếp theo, cuộc khủng hảng kinh tế - tài chính Châu á hồi thập kỷ 90 cũng
đòi hỏi phải đa vấn đề quản trị quá trình toàn cầu hoá bằng sự phối hợp chính sách
của các quốc gia lên một tầm cao mới. Và điều quan trọng là toàn cầu hoá không
chỉ gây sức ép gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các loại hàng hoá và dịch vụ, mà
còn đặt chính phủ vào thế phải cạnh tranh về thể chế. Giờ đây các Chính phủ phải
đối mặt với nhau nh những ngời bán hàng cạnh tranh nhau mà sản phẩm của họ là
những thế chế. Bởi vì chỉ có bằng việc tạo ra một khuôn khổ thể chế tốt, các nguồn
lực kinh tế mới chảyvề và làm sống động nền kinh tế và đời sống xã hội. Trờng
hợp ngợc lại, các nguồn lực sẽ dễ dàng chảy đi nơi khác trong điều kiện toàn cầu
hoá hiện nay. Vì vậy, điểm mới trong vai trò của Nhà nớc. Hiện nay tìm ra phơng
thức hợp tác trong đấu tranh để tạo cho toàn cầu hoá đạt hiệu quả cao nhất đã trở
thành vấn đề chính sách chủ chốt đối với mỗi quốc gia.
III- Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá:
Toàn cầu hoá là nh vậy, là xu thế khách quan của thời đại đã không ngừng
mở rộng và phát triển cùng với nó là một đặc điểm và vai trò to lớn của nó đối với
nền kinh tế của mỗi quốc gia. Điều quan trọng là cần phải có các biện pháp thích
hợp trong việc khuyến khích toàn cầu hoá phát triển.
Để làm đợc điều đó cần phải xác định đợc rõ: đâu là nhân tố để cho quá
trình toàn cầu hoá phát triển?
* Thứ nhất là sự bành trớng của các Công ty xuyên quốc gia (TWC).
5
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trong những thập
niên qua vừa phản ánh đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá gia tăng mạnh mẽ lên
một bớc mới: Toàn cầu hoá. Chúng ta biết rằng với sự phát triển mạnh mẽ của sản
xuất trong chủ nghĩa t bản tất yếu dẫn đến sự tập trung sản xuất và dẫn đến độc
quyền. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giới vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
các tổ chức kinh tế độcc quyền đã bắt đầu ngự trị trên thế giới. vào nửa sau của thế
kỷ XX, dới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đa đa lại sự phát triển
cha từng có của các Công ty xuyên quốc gia. Nếu vào cuối những năm 60 có
khoảng 7000 Công ty xuyên quốc gia, thì đến những năm 80 có khoảng 20 nghìn
và năm 1998 có khoảng 60 nghìn Công ty mẹ và trên 500 nghìn Công ty con rải
rác khắp các quốc gia trên địa cầu. Với một mạng lới rộng khắp nh vậy, hoạt động
của chúng thực sự tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Chúng kéo theo các nền kinh
tế quốc gia vào vòng chu chuyển của mạng lới Công ty. Hiện nay các Công ty
xuyên quốc gia kiểm soát 80% công nghệ mới, 40% nhập khẩu, 60% xuát khẩu,
90% đầu t trực tiếp nớc ngoài và sử dụng 34,5 triệu lao động khoảng 500 Công ty
lớn kiểm soát tới 25 tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của chúng tơng đơng
giá trị thơng mại toàn cầu. Với sức mạnh nh vậy, các Công ty xuyên quốc gia
không ngững có u thế phân phối tài nguyên trong phạm vi thế giới giúp cho việc
thúc đẩy phân công lao động quốc tế đi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc
toàn cầu hoá sản xuất và lao động quốc tế để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá
kinh tế thế giới.
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trên địah phận toàn
cầu hoá kinh tế thế giới
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trên địa phận toàn
cầu đã tạo mạng lới liên kết kinh tế quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau gia tăng. Vai trò thơng mại thế giới của các TNC còn thể hiện ở lợng giá
6
trị thơng mại đợc thực hiện trong nội bộ các TNC. Nhìn chung mức trao đổi nội bộ
giữa các chi nhánh chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thơng mại thế giới
Điều cần thấy là các TNC đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất
khẩu của các nớc đang phát triển, thực chất là đẩy mạnh tiến trình hội nhập của các
nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung. Trong hơn một thập kỷ lại đây,
xuất khẩu của các chi nhánh TNC ở các nớc đang phát triển tăng mạnh, đặc biệt ở
một số quốc gia ở thộc khu vực Châu á - Thái Bình Dơng. Ngay ở Việt Nam mức
đóng góp vào xuất khẩu của các Công ty có vốn đầu t nớc ngoài trong những năm
qua đã tăng đang kể. Tính từ khi có đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đến tháng
8/1999, mức xuất khẩu của khu vực có FDI là 5387 triệu USD, trong đó có các
năm cao là 1997 với 1790 triệu USD 1998. Việc tăng các hoạt động TNC ở các
quốc gia đang phát triển còn đóng góp quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực,
nâng cao trình độ quản lý và chuyển gia công nghệ hiện đại. Đây là những mặt rất
quan trọng để quốc gia đang phát triển nâng cao trình độ phát triển của mình, từng
bớc rút ngắn khoảng cách phát triển.
Nh vậy, sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các Công ty xuyên
quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách, biệt lập
trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân tộc từng bớc
tham gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế, đồng thời nó cũng
đem lại nét mới từ những bản sắc riêng của các quốc gia bổ sung vào nền kinh tế
toàn cầu, làm gia tăng tính đa dạng của nó
* Thứ hai là vai trò của các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực
Các định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc
tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và
khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá.
7
Trong các tổ chức kinh tế thơng mại tài chính toàn cầu và khu vực có
ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế phải kể đến
WTO, IUF, WB và các tổ chức khu vực EU, NAFTA, APEC.v.v với các mục
tiêu chức năng của mình, các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các
hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lý các hoạt động này. Cho dù tính
hiệu quả của các tổ chức này còn khác nhau xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc
gia, sống không ai thừa nhận sự cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí còn đặt ra
yêu cầu về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng
a- Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) đây là tổ chức có vai trò hàng đầu
trong thúc đẩu sự phát triển của xu hớng toàn cầu hoá kinh tế. WTO tiền thân là
hiệp định về thuế quan và mậu dịch (GATT) ra đời năm 1947 nh một hợp đồng
quốc tế đặt ra luật lệ cho mậu dịch thế giới, chủ yếu là ký kết các hiệp định giảm
thuế quan và những hạn chế khác đối với các sản phẩm chế tạo của các nớc công
nghiệp hoá. Ngày 1/1/1995 WTO ra đời thay cho GATT. WTO có chức năng điều
hành và thực thi các hiệp định thơng mại đa phơng và hiệp định giữa một số bên
cấu thành WTO, WTO hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thơng l-
ợng mậu dịch đa phơng, tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thơng mại, giám
sát các chính sách thơng mại quốc gia và hợp tác với các thiết chế quốc tế khác
liên quan tới hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu. Với chức năng nh trên thực tế
trong thời gian tồn tại của mình WTO đã đóng góp đáng kể vào thúc đẩu tự do hoá
thơng mại toàn cầu. Tất nhiên lợi ích của quá trình này đối với các quốc gia, luật
chơi của WTO còn nhiều vấn đề phải bàn cãi, song thực tế dờng nh tất cả các quốc
gia (cả phát triển và đang phát triển) đều muốn trở thành thành viên của WTO.
b- Các tổ chức tài chính - tiền tệ lớn nh WB, IUF cũng đóng vai trò lớn
trong thúc đẩy nền kinh tế thế giới theo xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá. các tổ
chức này tham gia vào điều chỉnh quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia
thành viên và thực hiện cho vay để hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế xã hội. nếu
8
WB cho vay theo các dứan và chơng trình phát triển dài hạn, thì IUF chủ yếu cho
các nớc bị thâm hụt cán cân thanh toán vay ngắn và trung hạn
c- Liên hợp quốc: Cùng với vai trò của các định chế kinh tế có tính toàn cầu
nh trên, việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế không thể không nói đến vai
trò của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là các tổ chức kinh tế thuộc Liên Hiệp Quốc, ví
dụ nh hội nghị Liên Hiệp Quốc về hợp tác và phát triển (LINCTAD).
Vai trò của Liên Hiệp Quốc đối với việc thúc đẩy xu thế toàn cầu khoá kinh
tế thể hiện trên hai mặt
Thứ nhất là khía cạnh gián tiếp Liên Hiệp Quốc tổ chức đa phơng, đa chức
năng có tính toàn cầu. Chơng trình nghị sự của Liên Hiệp Quốc không chỉ bó hẹp
trong phạm vi kinh tế mà bao gồm cả việc duy trì hoà bình an ninh, giải quyết các
vấn đề văn hoá xã hội. Các hoạt động trong lĩnh vực phi kinh tế cũng tạo ra sự ràng
buộc gắn bó về quyền lợi và trách nhiệm của các quốc gia thành viên và vì vậy tác
động đến sự phối hợp hợp tác của các nớc trong các hoạt động kinh tế
Thứ hai là tác động trực tiếp đến thúc đẩy liên kết kinh tế trong phạm vi
toàn cầu thông qua các tổ chức chức năng về kinh tế nh UNCTAD.
d- Cùng với các tổ chức có tính toàn cầu nh trên, các tổ chức khu vực nh
EU, ASEAN,v.v cũng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy xu h ớng khu vực hoá,
toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Vai trò và tác động của các tổ chức này rất khác
nhau do trình độ phát triển của các nớc thành viên do mức độ gắn kết và mục tiêu
hoạt động .v.v tác động của các tổ chức này đến xu thế toàn cầu hoá thể hiện
trên hai hớng chính:
- Thứ nhất việc tham gia vào tổ chức này cho phép các quốc gia đợc hởng u
đãi hoạt động kinh doanh khu vực, thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tiến đến
những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở
các hoạt động hợp tác song phơng và đa phơng đã làm tăng lên sự gắn bó tuỳ thuộc
9
lẫn nhau giữa các nền kinh tế, thực chất nó phân công lao động quốc tế ngày càng
sâu sắc trong nội bộ tổ chức.
- Thứ hai, hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình
thành một thị trờng thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có
lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực
Nói tóm lại, các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là
động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Thiếu vắng các tổ chức này, quá trình
trên diễn ra sự phát triển và chậm chạp. Thực tế của quá trình quốc tế hoá ở những
thời kỳ đầu cho thấy rõ điều đó. Cùng với các nhân tố nh đã trình bày, các tổ chức
kinh tế khu vực và toàn cầu đã thúc đẩy xu thế quốc tế hoá phát triển lên bớc mới
từ cuối những năm 70 trở lại đây và đợc gọi là toàn cầu hoá.
- Thứ ba, là vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát
triển từ thay thế nhập khẩu sang hớng vào xuất khẩu ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độc của toàn cầu hoá phụ thuộc
nhiều vào chính sách phát triển của các quốc gia. Các chính sách này có phù hợp
vào xu thế chung của tự do hoá hay không, các chính phủ có ủng hộ vào việc đó
hay không? có tích cực tham gia vào phá bỏ hàng rào hạn chế luôn chuyển của các
yếu tố sản xuất hay không đều tác động lớn tới xu thế toàn cầu hoá.
Nói tóm lại, toà cầu hoá kinh tế không phải là hiện tợng mới. Nó nh tác giả
Niall Fijzenrald toàn cấu hoá không phải là sản phẩm sáng tạo của việc kinh
doanh, không phải là một âm mu của chủ nghĩa t bản nhằm tạo ra một thế giới tập
đoàn, cũng không phải là điều tởng tợng của thế giới học thuật. Toàn cầu hoá là
mở rọng tự do hoá quốc tế về t bảnvà thơng mại do sự thôi thúc của những thay đổi
về dân số, chính trị, kinh tế và công nghệ và đẩy nhanh bởi các phơng tiện liên lạc
cao tốc. Nó vừa là nguyên nhân, vừa là kết của của một quan niệm mang tính chất
10
quốc tế sau hàng thập kỷ tồn tại, chế độ bảo hộ nền công nghiệp trong nớc đã bị
thất bại, cho rằng thị trờng mở cửa tạo ra của cải
IV- Các tác động của toàn cầu hoá kinh tế:
- Các đặc trng của toàn cầu hoá mà chúng ta đã nêu nói nên một điều rằng:
toàn cầu hoá đã và đang phát triển mở rộng mạnh mẽ, nó là một xu thế khách quan
của thời đại, các quốc gia dù muốn hay không thì vẫn phải lao vào cuộc chơi có
tính hai mặt đó. Các quốc gia hiện nay vẫn đang luôn tích cực để làm trong sáng
quá trình toàn cầu hoá kinh tế và đã gặt hái đợc không ít những lợi ích mà nó mang
lại và không ngừng thúc đẩy nó lên một cách mạnh mẽ. Nhng một vấn đề quan
trọng đặc ra hiện nay là làm thế nào để có thể vận dụng một cách triệt để những lợi
ích mà nó mang lại? Điều đó không phải là dễ và cũng không phải là quá khó. Một
trong những yếu tố và cũng là nguyên nhân quan trọng cho sự thành công của các
quốc gia khi tham gia và quá trình đó là: Cần phải biết xác định những tác động
tích cực mà nó mang lại để phát huy nó trở thành một thế mạnh của mình và xác
định những mặt tiêu cực của nó để hạn chế một cách tối thiểu ảnh hởng của nó tới
nền nền kinh tế, chính trị của mình. Vậy đâu là tác đọngtích cực và đâu là tác động
tiêu cực của nó, điều đó sẽ đợc làm sáng tỏ trong phần này.
1- Tác động tích cực của toàn cầu hoá kinh tế:
Mặt tích cực của toàn cầu hoá kinh tế thẻ hiện ở chỗ: trớc hết thông qua tự
do hoá thơng mại sự thu hoá đầu t và chuyển dao công nghệ, nó tạo cơ hội cho sự
phát triển của kinh tế toàn cầu nói chung và từng quốc gia nói riêng.
- Thứ hai, nó thúc đẩy quá trình cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ, buộc các
nền kinh tế phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp, mở rộng nền kinh tế thị
trờng, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh
- Thứ ba, nó tạo ra một môi trờng thuận lợi trong việc nắm bắt thông tin, tri
thức mới, giao lu văn hoá thế giới, trên cơ sở đó các quốc gia buộc phải cải cách hệ
11
thống tài chính, ngân hàng, chuẩn hoá nền tài chính quốc gia nâng cao năng lực
cạnh tranh.
- Thứ t, nó làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy sự phát triển, tính xã
hội hoá của lực lợng sản xuất, đa nền kinh tế toàn cầu hoá phát triển ở mức ngày
càng cao hơn.
2- Tác động tiêu cực của toàn cầu hoá kinh tế
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, toàn cầu hoá kinh tế bộc lộ những mặt
tiêu cực
- Thứ nhất, nó khiến cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nớc ngày càng
tăng, dễ dẫn tới tình trạng chủ quyền quốcgia từng bớc bị suy giảm không chỉ bên
lĩnh vực kinh tế mà còn cả bên lĩnh vực chính trị, văn hoá, đặc biệt là đối với
những nớc chậm hoặc đang phát triển; đồng thời, cũng làm gia tăng tính phục
thuộc về vốn và công nghệ của nền với bên ngoài, mà sự phụ thuộc này dễ gây
ra những tác động dây chuyền tiêu cực trong nền kinh tế thế giới (tính lan chuyền
nhanh và mạnh của khủng hoảng kinh tế/.
- Thứ hai, nó tạo ra sự phản hoá xã hội ngày càng sâu sức hơn, khoảng cách
giàu nghèo ngày một tăng các tệ nạn xã hội, tội phạm và buôn lậu quốc tế có cơ
hội và môi trờng để gia tăng
- Thứ ba, nó kéo theo tình trạng làm giảm môi trờng sinh thái, gây ảnh hởng
nghiêm trọng tới cuộc sống của nhân loại.
- Thứ t, sự phân phối không đều lợi ích thu đợc từ quá trình toàn cầu hoá
kinh tế tất yếu dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các quốc gia.
Với u thế vợt trội hơn hẳn về tiềm lực tài chính và trình độ khoa học -công
nghệ so với các nớc đang phát triển, các nớc t bản khống chế cục diện kinh tế toàn
cầu. Mâu thuẫn này thể hiện rõ qua những buộc biểu tình rầm rộ, thậm chí dẫn đến
12
bạo loạn đẫm máu trên đờng phố ở một số nớc nhằm phản đối sự bất bình đẳng
trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế
- Thứ năm, tác động của toàn cầu hoá kinh tế trong mặt tiêu cực của nó đối
với chính trị: Quá trình toàn cầu hoá kinh tế càng đợc tăng cờng thì chủ quốc gia
của mỗi nớc càng bị hạn chế và thu hẹp một cách tơng đối thúc đẩy các nguồn vốn
đầu vào hình thành các bong bóng xà phòng, nguyên nhân gây ra cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trên phạm vi rộng lớn; khoảng cách giầu nghèo trên thế giới
và trong mỗi quốc gia ngày càng mở rộng hơn; môi trờng toàn cầu hoá là điều
thuận lợi cho các nớc phơng tây tiến hành chiến tranh kinh tế, chiến tranh tâm lý,
diễn biến hoà bình không buộc các nớc đang hoặc chậm phát triển theo sự áp đặt
của họ.
Nh vậy, toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình phức tạp, đầy những mâu
thuẫn; giữa các nớc phát triển và các nớc đang phát triển, giữa trung tâm và ngoại
vi, giữa Bắc và Nam, giữa tăng trởng kinh tế và tiến bộ và công bằng xã hội, giữa
toàn cầu hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.v.v Hiện nay toàn cầu hoá đã
diễn ra trên những chiều hớng trái ngợc nhau, xu hớng tự do hoá kinh tế đồng hành
với xu hớng bảo hộ mậu dịch, toàn cầu hoá đi liền với phản toàn cầu hoá, phát triển
đồng thành với nhân tố phản phát triển
Đúng nh văn kiện Địa hội IX của Đảng ta khẳng định: toàn cầu hoá là xu
thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nớc tham gia xu thế này đang bị một
số nớc phát triển và tậo đoàn kinh tế t bản xuyên quốc gia chi phối chứa đựng
nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác bừa đấu
tranh.
V- Việt Nam cần tập trung cơ hội vợt qua thách
thức để hội nhập kinh tế có hiệu quả; chủ chơng
nguyên tắc hoạt động:
13
Ngày nay, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế là xu hớng chung của các quốc
gia, các dân tộc, không phân biệt trình độ kinh tế, chế độ chính trị xã hội. Đây là
vấn đề có tầm chiến lợc đói với nhiều nớc, trớc hết là các nớc đang phát triển,
trong đó có Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay.
Đối với các nớc đang và kém phát triển (trong đó Việt Nam) thì hội nhập kinh tế
quốc tế là con đờng ngắn nhất rút ngắn tụt hậu so với các nớc và có điều kiện phát
huy tốt hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác
quốc tế. Nh vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là: Hội nhập hay không hội nhập,
mà phải là hội nhập nh thế nào có thể tận dụng tốt cơ hội, giảm thách thức trong
quá trình phát triển của mình trong điều kiện thế giới có nhiều biến động khó dự
đoán hết.
Quá trình toàn cầu hoá, cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế, là một xu thế khách
quan tạo nên những thời cơ và vận hội cho các quốc gia; đồng thời đặt ra không
ính thách thức cho các nớc, nhất là các nớc đang phát triển.
Đối với Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm
tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển định hớng xã hội chủ nghĩa, thì việc
nhìn nhận một cách khách quan về những thời cơ và thách thức đối với kinh tế
toàn cầu hoá tạo ra là hết sức cần thiết:
1- Thuận lợi rất cơ bản đầu tiên của Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế là Đảng và Nhà nớc có quan điểm và đờng lối đúng và có sự năng
động điều chỉnh về chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nớc trong mỗi thời kỳ. Vào giữa và cuối những năm 80 của thế kỷ
XX, nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm, không ổn định. Trong bối cảnh cực kỳ
khó khăn đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng và các hội nghị Ban chấp hành TW khoá
VI đã lắm bắt đợc xu thế khách quan của thời đại, đề ra đờng lối đổi mới toàn diện
nền kinh tế đất nớc trong đó có những quan điểm cơ bản về mở rộng kinh tế đối
14

Xem chi tiết: Toàn cầu hóa


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét