2.2 Tình hình xuất khẩu cao su ở Việt Nam
Từ đầu năm 2009, ngành cao su toàn cầu đã gặp khó khăn lớn do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tiêu thụ ô-tô thu
hẹp, nhiều ngành công nghiệp đình trệ kéo theo nhu cầu săm lốp và cao su
nguyên liệu sụt giảm rất nhanh, giá xuống thấp chỉ còn khoảng 55 - 60% so
với cùng kỳ năm trước.
Thời điểm tháng 8/2008 giá cao su đạt trên 3.000 USD/tấn, thì đến
đầu 2009 chỉ còn trên 1.000 USD/tấn. Có thể nói, đây là sự tụt dốc quá
nhanh của giá cao su xuất khẩu. Các doanh nghiệp cũng như người sản xuất
đối mặt với nguy cơ thua lỗ, mất việc làm. Đồng thuận với các nước xuất
khẩu cao su khác, VRA khuyến cáo các doanh nghiệp ngừng xuất khẩu nếu
giá cao su xuống dưới 1.350 USD/tấn, đồng thời đề xuất Nhà nước hỗ trợ
phương án mua trữ cao su nếu giá mua trong nước thấp dưới 1.000
USD/tấn rất may là tình huống này đã không xảy ra.
Sau thời kỳ suy giảm mạnh, giá cao su xuất khẩu đã có sự cải thiện
đáng kể, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2009. Giá cao su vào tháng
1/2009 chỉ đạt bình quân khoảng 1.280 USD/tấn, sau đó ổn định ở mức
1.420 – 1.485 USD/tấn trong quý I và quý II.
Từ tháng 6 đến tháng 12/2009, giá cao su xuất khẩu tăng liên tục. Đến
tháng 12/2009, cao su xuất khẩu đạt bình quân 2.004 USD/tấn, tăng 57% so
với tháng 1, riêng chủng loại SVR 3L đạt 2.622 USD/tấn. Lượng cao su và
trị giá xuất khẩu đã tăng liên tục trong quý 3 và quý 4, đặc biệt trong 2 tháng
cuối năm, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu đã tăng đáng kể so với cùng kỳ
năm trước.
Giá cao su thiên nhiên không tiếp tục giảm mà giữ ổn định trong 6
tháng đầu năm 2009. Ngoài ra, giá cao su tăng nhanh trong 6 tháng cuối năm
còn do mức tiêu thụ cao su của thị trường Trung Quốc tăng mạnh do sự cải
5
thiện chính sách kích cầu thị trường ô-tô nội địa của thị trường này. Đồng
thời, giá dầu thô tăng vào 2 quý cuối năm 2009 khi nền kinh tế thế giới bắt
đầu phục hồi đã nâng đỡ giá cao su thiên nhiên và lượng tiêu thụ gia tăng.
Thực tế là thị trường xuất khẩu thu hẹp song số lượng DN Việt Nam tham
gia xuất khẩu cao su lại tăng rất mạnh. Nhiều thị trường giảm khối lượng
cao su nhập khẩu song vẫn duy trì các ngành công nghiệp tiêu thụ cao su dù
với số lượng thấp. Cụ thể là năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu cao su sang
71 nước, không sụt giảm nhiều so với 2008 (73 nước) và số lượng doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu cao su tăng gấp đôi so với năm trước (năm 2008
có khoảng 230 DN) nhưng phần lớn quy mô xuất khẩu thấp. Nhờ vậy, lượng
cao su xuất khẩu của Việt Nam đã tăng so với năm 2008, kim ngạch xuất
khẩu tuy giảm so với năm 2008 nhưng vẫn đạt 1,2 tỷ USD, vượt kế hoạch đề
ra hồi đầu năm (1,1 tỷ USD) đây là kết quả rất đáng ghi nhận. Hiện có tới
70% tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào thị trường
Trung Quốc, điều này có thể tiềm ẩn những bất ổn khi thị trường nhập khẩu
xảy ra biến động cũng như việc các nhà nhập khẩu sẽ có lý do để ép giá bởi
có quá nhiều doanh nghiệp cùng tập trung vào một thị trường.
Trong bối cảnh nhu cầu cao su của nhiều thị trường sụt giảm do ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế thì nhu cầu tiêu thụ cao su của Trung Quốc
không những không suy giảm, mà còn có phần tăng lên trong năm 2009 và
sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nhiều năm đến. Với vị trí địa lý nằm sát với
Trung Quốc nên việc xuất khẩu cao su của Việt Nam vào thị trường này
thuận lợi hơn các nước khác và giá cả cạnh tranh tốt hơn. Hiện Trung Quốc
vẫn giữ vị thế là nước sử dụng cao su lớn nhất thế giới và là thị trường dẫn
đầu trong việc xuất khẩu cao su của Việt Nam với số lượng khoảng 489.230
tấn năm 2009, chiếm 67,4% tổng lượng cao su xuất khẩu cả nước, tăng 5,4%
so với cùng kỳ năm 2008 và đạt trị giá 761,46 triệu đô-la, trong đó phương
6
thức giao hàng qua biên giới sang Trung Quốc chiếm tới 51% tổng lượng
cao su Việt Nam xuất khẩu.
Theo Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2010, kim ngạch
xuất khẩu cao su thiên nhiên ước đạt 656,4 triệu USD, tăng 82,6% so với
cùng kỳ năm trước và đơn giá bình quân đạt 2.744 USD/tấn, tăng 92,7%.
Tuy nhiên, lượng chỉ đạt 239 ngàn tấn, giảm 5,3% so năm trước. Số liệu
thống kê chính thức từ Tổng cục Hải Quan cho thấy, 2 tháng đầu năm 2010,
xuất khẩu cao su đạt hơn 76 ngàn tấn, trị giá 192 triệu USD, chỉ tăng 1% về
lượng nhưng tăng 89,27% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Hầu hết
các thị trường xuất khẩu đều có kim ngạch tăng. Trong đó, khách hàng lớn
nhất vẫn là Trung Quốc với 51 ngàn tấn, kim ngạch đạt 132 triệu USD, tăng
94,6% về giá trị nhưng lại giảm gần 2% về lượng. Tiếp theo là Hàn Quốc,
Đài Loan với kim ngạch tăng cao 74% và 109%. Điểm đáng chú ý, thị
trường xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 2/2010 có thêm thị
trường mới so với tháng 2/2009, đó là thị trường: Indonesia, Nga và Séc có
lượng xuất trong tháng lần lượt là: 415 tấn, trị giá 851,5 nghìn USD; 735 tấn
trị giá 2,27 triệu USD; 38 tấn trị giá 125,6 nghìn USD.
Theo tin từ Hiệp hội Cao su Việt Nam, khối lượng cao su thiên nhiên
xuất khẩu trong tháng 9 giảm khá mạnh so với tháng 8, ước chỉ đạt 88.000
tấn, giảm khoảng 18% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do phía
Trung Quốc vẫn tiếp tục kiểm soát chặt chẽ và hạn chế việc giao dịch cao su
tự do qua cửa khẩu tiểu ngạch. Một phần do giá tăng nhanh nên nhiều doanh
nghiệp Trung Quốc nhập khẩu cao su hạn chế để chờ giá giảm “nhiệt”. Tuy
nhiên, nhờ giá cao nên kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên trong tháng 9
đạt khoảng 243 triệu USD, chỉ giảm 12% so với tháng trước, nâng tổng giá
trị cao su xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm đạt trên 1,42 tỷ USD.
7
Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt Nam, nước ta đã xuất
khẩu 431 nghìn tấn cao su thiên nhiên (NR) trong 8 tháng đầu năm 2010,
tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất khẩu tăng mạnh đạt
gần 1,18 tỷ USD, tăng 93,8% so với cùng kỳ năm trước.
Bảng 2.2 Các thị trường xuất khẩu cao su chính của Việt Nam
Đơn vị: tấn (lượng) và 1.000 USD (giá trị)
STT
8 tháng/2009 8 tháng/2010 So sánh 2010/2009
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
1 TrungQuốc 284.986 420.391 252.432 674.171 88,58 160,37
2 Malaysia 16.897 23.803 27.059 71.039 160,14 298,44
3 Hàn Quốc 18.132 23.598 21.409 56.554 118,07 239,65
4 Đài Loan 13.508 21.242 18.610 55.679 137,77 262,11
5 Đức 11.081 17.595 15.881 48.715 143,32 276,87
Nguồn: Tổng cục Hải quan
8
2.3 Tình hình biến động giá cao su xuất khẩu trong thời gian qua
2.3.1 Tình hình biến động giá cao su trên thế giới
Sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu đã
khiến cho nhu cầu cao su tự nhiên tăng mạnh vào cuối năm 2009 đầu năm
2010, trong khi nguồn cung không kịp đáp ứng do yếu tố mùa vụ. Điều này
đã khiến cho giá cao su trên thị trường thế giới đầu năm 2010 liên tục tăng.
Theo báo cáo phân tích thường niên tháng 9/2010 của ANRPC, việc giá cao
su thiên nhiên liên tục tăng trong thời gian qua là do hạn chế về nguồn và sự
ảnh hưởng lớn đồng tiền bản địa tại các nước xuất khẩu lớn Thái Lan,
Malaysia. Các yếu tố này đã hỗ trợ thị trường bất chấp các yếu tố như lượng
cầu đang yếu dần, giá dầu giảm và đồng Yên Nhật Bản tăng giá đáng kể.Tại
Malayxia, giá cao su SMR20 đã tăng từ 286.85 USD/100kg ngày 1/7 lên
342.05 USD/100kg vào ngày 23/9, tương đương mức tăng 19,2%. Giá cao
su STR20 tại Băng Cốc, Thái Lan ngày 23/9 cũng đạt mức 341.7
USD/100kg, tăng 14,1% so với mức giá 299.41 USD/100kg ngày 1/7. Giá
cao su RSS3 của Thái Lan trong tháng 7 biến động giảm xuống mức thấp
nhất trong quý III vào ngày 23/7, đạt 317,42 USD/100kg sau đó tăng vững
lên mức 356,54 USD/100kg vào ngày 23/9. Tại Kottayam (Ấn Độ), giá cao
su đứng ở mức cao và đạt khoảng cách khá xa so với giá tại thị trường Băng
Cốc trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6 cho đến cuối tháng 8. Giá cả
đứng ở mức cao tại Kottayam là do trong giai đoạn từ tháng 1- tháng 7 năm
nay, sản lượng của Ấn Độ thấp hơn 5% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi
nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng trưởng với tốc độ nhanh là 8%.
9
2.3.2 Tình hình biến động giá cao su xuất khẩu Việt Nam hiện nay
Cùng chung với xu thế của thị trường thế giới, giá cao su xuất khẩu
của Việt Nam cũng biến động mạnh. Giá cao su của Việt Nam đã tăng liên
tục từ tháng 1 đến tháng 4, chủ yếu do nguồn cung hạn chế vào mùa khô và
thời thiết bất lợi vào đầu mùa mưa, trong khi đó nhu cầu cao su thiên nhiên
của Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ tăng trưởng nhanh làm nguồn cung
không kịp đáp ứng. Giá cao su RSS3 bình quân tháng 3/2010 đạt 3.132
USD/tấn tăng lên 3.4489 USD/tấn tháng 4/2010 và giảm xuống còn 3.337
USD/tấn tháng 5/2010. Tháng 5/2010 do Trung Quốc tiếp tục hạn chế và
ngừng nhập khẩu cao su theo đường mậu biên đã tác động làm giá cao su
Việt Nam sụt giảm. Tuy nhiên mức giá vẫn còn cao hơn so với tháng 1 đầu
năm và cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam cũng biến động theo cùng xu thế
giá của thị trường thế giới. Giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.210 USD/tấn
vào đầu tháng 7 và điều chỉnh giảm xuống mức thấp nhất của quý III vào
ngày 21/7, ở mức 2.960 USD/tấn, sau đó giá tăng vững cho đến thời điểm
hiện tại. Ngày 24/9, giá cao su RSS3 bình quân đạt 3.320 USD/tấn, tăng nhẹ
3,4% so với mức giá hồi đầu quý III và tăng 12,2% so với mức giá thấp nhất
trong quý III. Đây cũng là mức giá cao nhất đạt được trong quý III tính đến
thời điểm này. Trong quý III, giá cao su SVR20 có biến động mạnh hơn so
với giá cao su RSS3, với khoảng dao động giá từ mức thấp nhất là 2.615
USD/tấn (ngày 21/7) và mức cao nhất là 3.100 USD/tấn (ngày 24/9), mức
chênh lệch tới 485 USD/tấn.
Như chúng ta thấy, từ năm 2002 đến cuối tháng 8/2008, giá cao su
thiên nhiên trên thị trường thế giới tăng liên tục trong khi yếu tố cung cầu ổn
định. Liên tục trong các năm từ năm 2006 đến nay xuất khẩu cao su tự nhiên
của Việt Nam luôn đạt giá trị trên 1 tỷ USD và chiếm trung bình khoảng từ
10
2-3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm 2009, do tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên sụt
giảm làm cho giá xuất khẩu cao su xuất khẩu cũng sụt giảm theo. Tuy nhiên,
sự phục hồi của kinh tế thế giới đầu năm 2010 khiến cho nhu cầu cao su tự
nhiên tăng mạnh, giá cao su cũng tăng theo. Chính vì vậy, sản lượng cao su
tự nhiên xuất khẩu năm 2010 tăng khá cao, chỉ riêng 3 quý của năm, giá trị
xuất khẩu cao su đã đạt 1, 42 tỷ USD cao hơn so với toàn bộ năm 2009 khi
chỉ đạt 1,2 tỷ USD cho thấy được thị trường xuất khẩu của ngành đang tăng
trưởng cao.
Bảng 2.3.1 Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam
Năm 2008 2009 8 tháng/2010
Lượng xuất khẩu
(ngàn tấn)
645 731,39 431
Giá trung bình (USD/
tấn)
2.483 1.677 2.731
Trị giá (tỷ USD) 1,57 1,226 1,18
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu của tổng cục thống kê)
Năm 2008, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam biến động mạnh mẽ,
kết thúc cả một quá trình tăng giá liên tục từ năm 2002, xu hướng tăng dần
của giá cao su bị chững lại và liên tục giảm vào nửa cuối năm.
11
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Đồ thị 2.3.1 Biến động giá và sản lượng cao su xuất khẩu năm 2008
Trong 8 tháng đầu năm 2008, cao su xuất khẩu của Việt Nam được lợi
về giá, tăng liên tục và đạt mức kỷ lục hơn 3.000 USD/tấn vào tháng 8/08.
Tuy nhiên, bắt đầu từ quý III/08 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu
nên giá cao su thiên nhiên trong xu hướng giảm mạnh khiến cho nhu cầu sử
dụng cao su thiên nhiên giảm dẫn đến giá cao su giảm mạnh.
Giá cao su thiên nhiên tăng cao trong 8 tháng đầu năm 2008 chủ yếu
là do giá dầu thô tăng quá nhanh làm tăng giá cao su tổng hợp, khiến nhiều
doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng cao su thiên nhiên. Mặt khác, giá
cao su tăng còn do hoạt động đầu cơ. Trong những tháng này giá cao su xuất
khẩu của Việt Nam tăng liên tục, đạt mức kỷ lục hơn 3.000 đô la Mỹ/tấn vào
tháng 8-2008. Nhưng tính đến cuối tháng 12-2008, giá cao su chỉ còn ở mức
1.315 đô la/tấn, giảm hơn 50% so với thời điểm tháng 8-2008.
Theo Báo cáo thường niên ngành cao su Việt Nam 2008-2009,
nguyên nhân khiến giá cao su xuất khẩu Việt Nam giảm mạnh là giá dầu thô
12
thế giới giảm khiến xu hướng sử dụng cao su tổng hợp từ dầu (chiếm khoảng
50%) tăng trở lại. Ngoài ra, cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra cũng
làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, lượng mua sắm ô tô và vỏ, ruột ô tô ở các
nước phát triển chững lại làm cho sức mua cao su giảm sút. Bên cạnh đó,
trong 3 tháng cuối năm 2008, cao su Việt Nam bước vào thời kỳ tăng sản
lượng nên nguồn cung trên thị trường tăng mạnh cũng tác động đến giá xuất
khẩu.
Khối lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm
2008 đạt 50.000 tấn, trị giá gần 1,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 18,4% về lượng và tăng
hơn 63% về giá trị so với cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên, bắt đầu từ quí
3-2008, xuất khẩu cao su của Việt Nam đã giảm cả về lượng và trị giá xuất
khẩu. Khối lượng cao su xuất khẩu tháng 9-2008 đạt 75.000 tấn, trị giá 223
triệu đô la, giảm 1,3% so với tháng 8-2008. Tháng 9,10,11-2008, lượng và
giá trị xuất khẩu tiếp tục giảm so với các tháng đầu năm 2008. Đến tháng
12-2008, lượng cao su xuất khẩu đã giảm 11,4% về giá trị so với tháng
11-2008, đạt 116 triệu đô la.
Giá cao su của Việt Nam biến động theo xu thế của giá trên thị trường
thế giới song giá xuất khẩu của cao su nước ta luôn thấp hơn so với giá quốc
tế bởi chất lượng cao su chưa cao.
13
(Nguồn: Dữ liệu thị trường nông sản AGRODATA, Trung tâm Thông tin
PTNNNT, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, www.agro.gov.vn)
Đồ thị 2.3.2 Diễn biến giá cao su xuất khẩu của Việt Nam và giá cao
su thế giới tháng 1-tháng 12/08
Sang năm 2009, giá cao su xuất khẩu Việt Nam tháng 1/2009 chỉ đạt
bình quân khoảng 1,278 USD/tấn, sau đó ổn định ở mức 1,419 – 1,485 USD/
tấn trong quý 1, quý 2. Từ tháng 6 đến tháng 12, giá cao su xuất khẩu tăng
dần đến tháng 12 đạt 2,190 USD/tấn, tăng 71.4% so với tháng 1.
Đồ thị 2.3.3 Giá cao su xuất khẩu Việt Nam năm 2009
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét